Sign up

Giải thưởng nhiếp ảnh xuất sắc năm 2011

tuyenm 31 December, 2011 23:30 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

alt

Thiên sứ (Đỗ Thùy Mai - Hà Nội) Cúp VAPA 

ẢNH ĐOẠT GIẢI C

alt

Trên con đường làng     (Trần Phong - Gia Lai)

alt

Cô bé Mông vùng cao Mù Cang Chải (Ảnh Nguyễn Huỳnh Mai - Hà Nội)

alt

Tóc biển (Lê Thị Diễm Phúc - Thành phố HCM)

alt

Tiếc thương (Bảo Hưng - Đắc Lắc)

alt

Thượng nguồn sông Chu (Lê Công Bình - Thanh Hóa)

alt

Sa Pa huyền ảo (Nguyễn Minh Được - Lào Cai)

alt

Sẵn sàng ứng cứu (Đặng Quang Minh - Cà Mau)

alt

Nước và cuộc sống (Nguyễn Thanh Miền - Yên Bái)

alt

Ngày gặp lại (Phạm Vũ Dũng - Hải Phòng)

alt

Mùa vàng Bá Thước (Trọng Thắng - Thanh Hóa)

alt

Lời cổ nhân (Bạch Ngọc Anh - Lâm Đồng)

alt

Đôi mắt PleiKu (Hồ Anh Tiến - Gia Lai)

alt

Đợi (Lê Đức Toại - Bạc Liêu)

alt

Cứu (Duy Bằng - Long An)

alt

Cú bứt phá trong mưa (Đặng Quang Hiền - Cà Mau)

alt

Cho những mùa hoa (Nguyễn Khắc Hiếu - Đồng Tháp)

alt

Báu vật nhân văn sống (Việt Văn - Hà Nội)

alt

Ấm áp tình mẹ (Dzũng Nguyễn - TP HCM)

ẢNH ĐOẠT GIẢI B:

alt

Vượt sóng (Trương Vững - Thừa Thiên Huế)

alt

Vũ bale (Nguyễn Hương Vượng - Đắk Lắk)

alt

Tung chài (Nguyễn Văn Dũng - Thừa Thiên Huế)

alt

Trẻ em vùng cao (Chu Quang Phúc - Vình Phúc)

alt

Thiếu nữ và mùa xuân (Nguyễn Đông - Khánh Hòa)

alt

Thầm lặng (Diệp Đức Minh - TP HCM)

alt

Quá khứ một triều đại (Nguyễn Quang Tuấn - Hà Nội)

alt

Nhịp sống mới (Trần Trọng Thắng - Cà Mau)

alt

Nấu rượu ngô (Hoàng Minh - Hà Nội)

alt

Mũi né nắng vàng biển xanh (Trần Đình Thương - Ninh Thuận)

alt

Khoảnh khắc thiên nhiên (Lê Hữu Dũng - TP HCM)

alt

Chiến tranh đã đi qua (Tạ Hoàng Nguyên - Cà Mau)

alt

Chia sẻ nỗi đau cùng chất độc da cam (Nguyễn Thị Kim Anh - Kiên Giang)

ẢNH ĐOẠT GIẢI A:

alt

Vũ điệu Ooc om boc (Nhan Quốc Dũng - Sóc Trăng)

alt

Thiên nga đỏ (Đỗ Phương Mai - Hà Nội)

alt

Tầm cao (Nguyễn Ngọc Bảo - TP HCM)

alt

Ngày mới (Đặng Quang Vinh - Bạc Liêu)

alt

Điêu khắc gia Olwin (Hồ Xuân Bổn - Đà Nẵng)

alt

Chiều quê (Nguyễn Bảo Sơn - Ninh Thuận)

alt

Chiều chủ nhật (Nguyễn Thị Tuyết Mai - TP HCM)

alt

Bức tranh phố Hội (Ông Văn Sinh - Đà Nẵng)

alt

Ba Thế Hệ (Nguyễn Hồng Nga - TP HCM)

alt

Ba chị em Mông (Trần Thiết Dũng - Lâm Đồng)

Nguồn: www.vapa.org.vn


Nỗi niềm Thị Nở

tuyenm 14 November, 2011 11:10 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

TỪ HƯ VÔ ĐẾN NỖI NIỀM THỊ NỞ

Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã nói tới cái khó của thể thơ lục bát. Xuân Diệu thậm chí còn tiết lộ ông rất "sợ" thơ lục bát, rất ít viết lục bát, vì sợ thất bại. Trong quan niệm của ông, đây là loại thơ dễ làm nhưng khó hay, phải làm sao để nó "giản dị, thanh thoát và không tầm thường dung tục".

Quang Huy cũng có chung nhận định như vậy, mặc dù điều ấy không ngăn trở việc anh năng dùng thể thơ này. Trong thi đàn, anh được xem là người viết lục bát vững tay nghề. Bình thường anh viết ậm ạch nhưng riêng với thể thơ lục bát, anh như được thoát xác, thăng hoa. Đa phần các bài của anh đều có hình ảnh "bắt mắt", âm điệu xuôi tai. Nó có thể chinh phục người đọc ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Tuy nhiên, về lâu về dài, mỗi bài thơ cần như một con sông, nước vẫn êm đềm chảy trôi song phải có phù sa lắng lại. Như với trường hợp các bài "Hư vô", "Nỗi niềm Thị Nở", theo tôi, đây là hai bài vào loại đặc sắc của Quang Huy, cũng là đặc sắc của thi ca đương đại Việt Nam. Nó hoàn toàn đủ để chứng minh sức lay cảm ở thể loại thơ lục bát của anh.

alt

Nhà thơ Quang Huy. 

"Hư vô" là bài thơ đẹp một cách trang nhã, ý tứ thâm trầm sâu sắc, thể hiện ở tác giả sự kinh lịch việc đời và cả kinh nghiệm việc… thơ: "Cái gì cũng có một thời/ Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban/ Cái gì rồi cũng tiêu tan/ Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ/ Cái gì rồi cũng hư vô/ Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi/ Cái gì rồi cũng rụng rơi/ Quả trên vườn Cấm, hoa nơi Địa - đàng/ Chỉ còn mãi với thời gian/ Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ…". Thông điệp của bài thơ khá rõ ràng: Mọi cái thảy rồi cũng qua, chẳng có gì là vĩnh cửu, từ quyền lực tới đức tin của con người. Chỉ tình yêu là đáng tôn thờ, là còn mãi. Vậy mà con người vẫn luôn làm khổ nhau. Máu vẫn không ngừng đổ và nỗi oan khuất thì muôn đời vẫn chất chồng xương trắng… Không chỉ sâu sắc trong ngẫm ngợi sự thế, Quang Huy còn chặt chẽ trong chọn lựa chi tiết, hình ảnh. Chỉ tiếc là hai câu kết chưa thực tương xứng với vấn đề mà tác giả đặt ra. Gì chứ "Gắng ngồi viết cạn bài thơ/ Bài thơ liệu có hư vô như mình?", kết thế là hơi gượng. Một khi nội dung chính của bài thơ nói tới những cái lớn lao như thời thế, kiếp người, việc đem chuyện… làm thơ vào đây đã ít nhiều làm giảm cấp độ cảm xúc của bài thơ.

Nếu như trong "Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam" in ra năm 1994 ở NXB Văn hóa - Thông tin, Quang Huy đã chọn bài thơ đại diện cho mình là bài "Hư vô" thì ở các tuyển thơ khác sau này, như "Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ XX" (NXB Thanh niên, 2001), anh lại thay bằng bài "Nỗi niềm Thị Nở". Giống như "Hư vô", bài này cũng được anh sáng tác trong năm 1993. Theo tôi, đây mới thực là bài thơ đạt đến độ hoàn mỹ của Quang Huy.

Nhiều bạn đọc đã biết, Chí Phèo và Thị Nở là hai nhân vật chính trong truyện "Chí Phèo" của Nam Cao. Đây là hai nhân vật nổi đình nổi đám và có sức điển hình hóa thuộc loại bậc nhất trong văn chương Việt Nam. Sau Nam Cao, đã có một số tác giả tiếp tục cho hai nhân vật này dung dăng dung dẻ trên trang sách của mình. Về văn xuôi, tôi nhớ có tiểu thuyết "Chí Phèo mất tích" của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu và tiểu thuyết "Hậu Chí Phèo" của nhà văn Phạm Thành. Ở mảng thơ, trước Quang Huy, Vương Trọng và một số nhà thơ khác cũng chọn đưa Chí Phèo, Thị Nở vào tác phẩm của mình. Song đa phần các tác giả này dùng thể thơ ngũ ngôn, là thể thơ gần với lời nói thường ngày để dựng chân dung nhân vật sao cho gần với những gì mà bạn đọc cảm nhận được từ trang sách của Nam Cao. Ở đây, Quang Huy đã liều sử dụng tới thể thơ… lục bát, một việc mà nếu không khéo sẽ gây… phản cảm với bạn đọc, tương tự trường hợp ta cho Thị Nở, Chí Phèo hát… quan họ vậy.

Trước đây, hễ nói tới Thị Nở là người ta gần như chỉ tập trung nhấn mạnh tới nét xấu ngoại hình, tới bộ mặt ma chê quỷ hờn của thị. Quang Huy không đề cập tới khía cạnh này, nói đúng hơn là anh… lờ đi. Thay vào đó, anh khai thác cái tâm tính "dở hơi" - mà thật ra chưa hẳn đã dở hơi - của thị. Và chính cái "dở hơi" mà đáng thương, đáng quý ấy của Thị Nở sẽ chi phối toàn bộ cái tứ của bài thơ.

Để tiện cho bạn đọc theo dõi, xin dẫn ra đây nguyên văn bài thơ nói trên của Quang Huy:

Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi, nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình

Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền

Anh không nhà cửa, bạc tiền
Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao

Quần anh ống thấp ống cao
Làm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao!

Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa
Người ta… mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh

Thôi rồi, đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.

Bài thơ mở đầu bằng hai câu có phần bông đùa. Nó có thể là lời Thị Nở mà cũng có thể là lời tác giả "bênh vực" cho thị. Song đến câu thơ tiếp theo thì đích thị là câu của Thị Nở. Có cảm tưởng như thị đang xốc váy xáp vô những người có cách nhìn nhận khinh thường thị: "Dở hơi, nào dở hơi gì". Kể ra, nếu cứ để thị tiếp tục cái mạch đành hanh, "áp đảo dư luận" kiểu này thì rồi bài thơ cũng không biết sẽ rẽ sang ngả nào. May mà tác giả đã kịp chen vào can thiệp bằng một câu thơ gắn nụ cười hóm hỉnh: "Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình". Chữ "cũng tình" mang hơi hướng ngôn ngữ… vỉa hè đưa vào đây rất đắc địa. Nó thể hiện một cái nhìn "âu yếm", hơi chút… lẳng lơ với Thị Nở. Âu cũng là một cách xoa dịu thị.

Khổ thơ tiếp theo, tác giả làm lời Thị Nở nói về Chí Phèo. Thật ra, trong truyện của Nam Cao, Chí Phèo chưa bao giờ một tay cầm be (rượu), một tay cầm mảnh sành cả. Hắn chỉ ngất ngưởng với chai rượu và khi cần thì đập chai, lấy mảnh vỡ rạch mặt. Nhưng thôi, đấy là lời Thị Nở, hẳn "anh Chí" cũng chẳng chấp. Một người có cái nhìn về hắn tốt đến thế cơ mà: "Chỉ mình em biết anh say rất hiền" (xin mở ngoặc: Đây không phải Quang Huy "bịa" thêm đâu. Nam Cao chẳng có lúc đã để cho Thị Nở nghĩ về Chí Phèo: "Sao có lúc nó hiền như đất?").

Đến khổ thơ thứ ba, vẫn là lời Thị Nở (về Chí Phèo), song cách nói hốt nhiên trở nên nghiêm trang lạ: "Anh không nhà cửa, bạc tiền/ Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo". Thú thật, đọc đến đây tôi hơi… lo. Làm sao lại để Thị Nở phát ngôn như thể các nhà làm sách giáo khoa thế? Không chừng sự thuyết giáo này lại phá hỏng bài thơ vốn dĩ có giọng điệu hài hước của Quang Huy. Vả chăng, có một thời, các nhà phê bình quá nặng về vấn đề "tính giai cấp" nên đã có những nhận định đi hơi xa so với những gì Nam Cao thể hiện. Kiểu như: "Xưa kia, Chí Phèo đã từng ước mơ một cuộc sống hạnh phúc, giản dị trong lao động. Tuy còn trẻ trung, anh cũng phân biệt được tình yêu chân chính và thú dâm dục xấu xa… Bản chất trong trắng, lương thiện của người dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân ra sức bóp chết" (như nhận xét của một vị giáo sư khả kính). Tôi lo Quang Huy cũng đi theo hướng ấy, nhất là khi anh lại gá những lời nghiêm túc ấy vào miệng một người như… Thị Nở. Rất may, câu thơ tiếp theo đã hóa giải tất cả, bởi nó lại trở lại giọng bông đùa ban đầu: "Cái tên thơ mộng Chí Phèo/ Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao".

Nhưng đùa là đùa vậy thôi, hình ảnh Chí Phèo, dẫu có xốc xếch, xộc xệch cũng vẫn đáng yêu, nhất là trong con mắt Thị Nở: "Quần anh ống thấp ống cao/ Làm em hồn vía nao nao đêm ngày". Đến đây, tác giả buông một câu thật đắc địa (nó gợi lại cái tên truyện "Đôi lứa xứng đôi" mà nhà văn Lê Văn Trương từng đặt cho tác phẩm của Nam Cao khi truyện "Chí Phèo" lần đầu được in): "Khen cho con Tạo khéo tay/ Nồi này thì úp vung này chứ sao".

Từ đoạn tả cảnh vườn chuối đêm trăng trong truyện ngắn của Nam Cao, Quang Huy đã tạo nên một không gian rất thần diệu, vừa gợi không khí lãng mạn vừa nói lên cái ngất ngây của cặp "tình nhân" lần đầu đến với nhau: "Đêm nay trời ở rất cao/ Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa", để rồi qua đó, anh buông hai câu  tưởng không thể đáng yêu và hợp ngữ cảnh hơn: "Người ta… mặc kệ người ta/ Chỉ em rất thật đàn bà với anh".

Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đặng Anh Đào - trong bài viết "Khả năng tái sinh của Chí Phèo" đã cho rằng, truyện "Chí Phèo" của Nam Cao là một tác phẩm "tắm trong chất thơ". Và vì những tác phẩm viết lại Chí Phèo ngày nay đã đánh mất cái "chất thơ" ấy, nên "những Chí Phèo ngày nay sẽ tuyệt tự" (nghĩa là nó xuất hiện đấy mà không phải… Chí Phèo nữa). Tôi cho rằng nhận định này tuy có lý, song chí ít nó cũng không đúng với một trường hợp. Bởi trong bài thơ của mình, Quang Huy đã không hề xem nhẹ cái "chất thơ" ấy.

Theo Phạm Khải (VNCA)


Những người viết văn trẻ: Bạn từ đâu tới?

tuyenm 09 October, 2011 16:27 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Xin giới thiệu với các bạn Bài phát hiểu của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ 8 tổ chức tại Tuyên Quang:

Kính thưa các vị khách quý

Thưa hội nghị.

alt

Thế là, sau một thời gian chuẩn bị với không ít bận rộn và hào hứng, hôm nay Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII chính thức khai mạc. Chọn Tuyên Quang làm địa chỉ gặp gỡ đáng nhớ này, chúng tôi muốn diễn đàn hội nghị là nơi bày tỏ tình cảm, trách nhiệm của các cây bút trẻ tiếp tục một cách xứng đáng truyền thống lịch sử vẻ vang của cách mạng và kháng chiến. Thay mặt Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, tôi nồng nhiệt chào mừng đại biểu các cây bút trẻ từ các vùng miền trong cả nước và gồm nhiều dân tộc anh em đã về dự hội nghị. Xin trân trọng chào mừng và cám ơn các vị khách quý, các nhà văn lớp trước đem tin yêu và quý trọng đến với các tài năng văn học trẻ của đất nước.

Qua hơn nửa thế kỷ hoạt động, mỗi kỳ Hội nghị viết văn trẻ do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lại trở thành cuộc hò hẹn thú vị, ghi dấu một lớp nhà văn mới lại đến với văn học. Trong lần gặp gỡ này, tôi muốn mở đầu câu chuyện của chúng ta bằng một vài câu hỏi làm quen. Câu thứ nhất:

- Những người viết văn trẻ, bạn từ đâu đến?

- Chúng tôi đến từ miền của tài năng.

- Đúng quá, xin chào các sứ giả đến từ miền của tài năng.

Nếu như các hội nghị lần trước, phần đông đại biểu mời có một chùm thơ, một vài truyện ngắn in trên các báo thì, rất đáng mừng của hội nghị lần này một phần ba số đại biểu đã có những tập sách riêng, nhiều bạn có tới 2, 3 đầu sách. Và hơn nữa, số giải thưởng văn học mà các bạn đem về hội nghị này nhiều hơn bất cứ hội nghị nào trước đó. Như vậy, có thể nói các bạn đã bước qua giai đoạn xuất hiện. Kế tiếp sau đây là giai đoạn định hình. Miêu tả chặng đường vừa qua, có thể diễn đạt qua ba nhận xét sau đây về tác phẩm của các bạn:

- Nhiều đầy tràn nhưng còn ít sâu lắng.

- Dàn đồng ca khá mạnh nhưng còn ít những giọng lĩnh xướng vang xa.

- Thêu thùa cho cá nhân thì khéo, may cắt cho thiên hạ còn ít dụng công.

Đó là những đặc điểm thường thấy trong giai đoạn xuất phát. Giờ đây, các bạn đã từ giã giai đoạn xuất phát để bước hẳn lên cuộc hành trình mới mà nhiệm vụ quan trọng nhất là định hình, là khẳng định. Nếu hôm qua, bạn chỉ cần năng khiếu thôi là đủ, thì trên chặng đường mới này, năng khiếu phải trở thành tài năng. Nếu hôm qua bạn chỉ cần đam mê là đủ, thì hôm nay đam mê phải trở thành bản lĩnh. Nếu hôm qua bạn chỉ cần bản năng thôi là đủ, thì hôm nay viết văn là công việc tự giác hoàn toàn. Nếu hôm qua bạn bảo viết văn cũng thường thôi thì hôm nay bạn sẽ cảm thấy, càng ngày càng cảm thất viết văn là vô cùng khó. Về chuyện này, tôi muốn bạn tham khảo lời bàn sau đây của Lưu Hiệp, một nhà phê bình văn học uyên bác của Trung Hoa cách chúng ta 1.626 năm về trước. Lưu Hiệp nói: Làm thơ nếu thấy là khó thì cái dễ sẽ tới, còn xem là dễ thì cái khó đến ngay (Văn tâm điêu long, thiên minh thư).

Xem thế đủ biết, để đi được dài, được lâu bền trên cuộc độc hành vất vả này, bạn phải chăm lo cho sức khỏe tài năng của bạn ghê lắm. Sức khỏe của tài năng còn có tên gọi khác, đó là vốn sống, một tổng thể hiểu biết, trải nghiệm, dấn thân và dâng hiến tận cùng mà nguồn bổ dưỡng vô tận chính là đời sống. Thoát ly đời sống thì ngay cả thiên tài cũng có nguy cơ thui chột.

Văn chương là cái biển chứa tài năng không biết thế nào cho đủ. Mà cái quy luật hưởng thụ văn chương mới thật ngược đời. Mỗi khi có một tài năng xuất hiện thì nó lại kích thích người ta đi tìm một tài năng kiểu khác. Đó là bản chất của quy luật bổ sung. Vì thế nên bao nhiêu sắc thái, bao nhiêu cung bậc tài năng đều tìm thấy chỗ đứng của mình. Một nền văn học trưởng thành là một nền văn học cộng sinh những tài năng khác nhau. Đó là lý do, là mục đích của hội nghị này. Chúng tôi biết có một số bạn băn khoăn là có những nhà văn lớp trước còn dè dặt trước lối viết của lớp trẻ, chưa đánh giá đúng mức cống hiến của họ, thậm chí có bạn lo ngại có người muốn áp đặt, gò gẫm lớp trẻ phải viết theo khuôn thước của lớp trước hay không. Nếu quả có lo lắng như vậy thì hôm nay, tại đây, chúng tôi muốn nói rằng, đó là những lo lắng không có căn cứ, vì Hội Nhà văn Việt Nam không bao giờ chủ trương như vậy. Một nền văn học được làm giàu bởi tài năng của các thế hệ, đó là sự đòi hỏi của cuộc sống và nhu cầu nội sinh của văn học. Từ một cách nhìn như thế, mọi sự đố kỵ, ganh ghét là sự buồn cười thảm hại. Vấn đề là mỗi người phải trở thành một chủ thể độc đáo, duy nhất, một lĩnh xướng tài hoa của dấu ấn cá nhân. Chỉ như thế, bạn mới có thể sớm tách ra khỏi dàn đồng ca vui vẻ. Đây là một câu chuyện nghiêm túc và vô cùng cấp bách nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của văn học ta.

Vậy lý do nào đưa đến những hội tụ tài năng hôm nay? Trả lời câu hỏi này, không gì xác đáng hơn là trích một câu trong Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X. Nghị quyết viết "Tài năng là vốn quý của dân tộc. Chăm sóc và giúp đỡ tài năng phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội". Như vậy, có thể thấy cuộc sống đang mở đường và bảo trợ cho tài năng phát triển. Tuy vậy, về phần mình, cứ cho là tư tưởng trên được thấu triệt và thực thi tuyệt vời đến đâu chăng nữa thì vẫn không thể thay thế cho nỗ lực chủ quan của mỗi cá nhân. Tài năng là trời cho nên cũng có thể lấy đi bất cứ lúc nào. Bảo hiểm cho tài năng chính là thái độ sống đúng đắn, một tình yêu rộng lớn không bao giờ mệt mỏi.

Thưa các bạn, câu chuyện của chúng ta xin tiếp tục bằng câu hỏi thứ hai:

- Các bạn viết văn trẻ, các bạn từ đâu đến/

- Chúng tôi đến từ tương lai.

- Đúng quá, các bạn là đại diện cho nền văn học tương lai. Nhưng trước khi tiến thẳng lên tương lai, xin các bạn dành thời gian trờ chuyện một chút với hiện tại. Mà cái hiện tại này mới cụ thể làm sao, có thể cảm thấy bằng làn da, bằng hơi thở, từng ngày từng giờ, một hiện tại vừa nhẵn nhụi, vừa xù xì, vừa xa vừa gần, quấn quýt, bấu bện đển không thể gỡ ra được. Mà xem chừng bạn còn đang quyến luyến lắm với cái hiện tại này lắm. Nó làm nên yêu ghét, khổ đau, phấn khích, bồng bột, đắm say khiến bạn không biết khâu cất vào cái túi tám gang, mười gang nào cho yên nên quyết định cầm bút. Và vì cầm bút mà các bạn cho người ta thấy các bạn đang lo âu, thao thức, đang ra sao trước bao trước biết bao thuận cảnh và nghịch cảnh. Trong lúc đắm say, các bạn quên là các bạn đang làm công việc tự bộc lộ, tự vẽ chân dung của mình. Và lúc này đây bức chân dung đó mang dáng vẻ của một người đang sốt ruột. Các bạn muốn cuộc đời phải nhanh lên, phẳng phiu, phải ngăn nắp, đâu vào đấy, nghĩa là nó phải hiện ra đúng như hình dung và mong muốn của bạn. Nhưng cuộc đời nó cứ vận hành theo các quy luật riêng của nó, nó tỏ ra đủng đỉnh trước sự sốt ruột của bạn, và chỉ chịu nhích lên phía trước khi tất cả chúng ta đều đấu tay vào cùng đẩy cỗ xe cuộc sống. Lý do đơn giản, nếu không đấu tay vào thì không tìm được ai là người lái con tàu đưa bạn đến tương lai. Thưa các bạn, tôi đã chọn câu chuyện dài dòng để nói đến một vấn đề mà các bạn đã tâm đắc từ lâu: Nâng cao tính tích cực xã hội của nhà văn.

Và sau đây, là câu hỏi thứ ba:

- Các bạn viết văn trẻ, các bạn từ đâu tới?

- Chúng tôi đến từ nền văn học trên mười đầu ngón tay.

- Ôi, nền văn học gì mà phải đấu cả mười đầu ngón tay vào như thế?

- Máy tính, vật tùy thân của những người viết trẻ.

- Hiểu rồi, các bạn muốn nói đến nền văn học hiện đại, giao diện với toàn thế giới. Thế thì quý hóa quá, chúng ta khao khát được đồng hành với nhân loại từ lâu. Nhưng tò mò muốn hỏi các bạn sẽ gửi thông điệp gì từ địa chỉ Việt Nam? Và trong khi trò chuyện với nhân loại, các bạn có bỏ quên số phận của một bộ phận nhân loại đang đau đáú gửi đá và gửi máu ra biển đảo hay không? Các bạn có nói đến những ác mộng, những cơn mê sảng, đau đớn tột cùng cả về thể xác và tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam hay không? Và các bạn có nói cho cư dân mạng biết có những cô giáo nhỡ nhàng duyên phận sau nhiều năm dạy học đơn chiếc ở vùng cao hay không? Tất cả những câu chuyện bằng xương bằng thịt ấy có làm tổn hại đến tính sang trọng của văn học mười đầu ngón tay hay không? Nhân câu chuyện này, tôi muốn nhắc bạn là nơi ta họp đây rất gần với ngôi nhà cũ của Lan Khai và mỏ than Tràng Định, nơi ông lấy chất liệu để viết cuốn tiểu thuyết Lầm than nổi tiếng. Năm 1935, theo dõi ý kiến của nhà văn Pháp rất nổi tiếng lúc bấy giờ là André Ghide phát biểu trong một hội nghị quốc tế rằng "ngày nay vấn đề cốt yếu là tạo ra một nhân loại mới", Lan Khai đáp lại như sau "Tôi muốn nói khác. Ngày nay vấn đề cốt yếu của chúng ta là tạo ra cuộc đời tương lai cho một lớp người Việt Nam mới, bằng những khả năng của dân tộc". Thay vì nói về nhân loại chung chung, Lan Khai nói con người Việt Nam cụ thể, và nói đến con người, trước hết phải tạo ra cuộc sống cho con người. Một quan niệm như vậy về mối quan hệ giữa dân tộc và nhân loại đáng để chúng ta cùng suy nghĩ.

Chúng tôi biết vừa qua các bạn rất quan tâm đến hiện đại hóa nền văn học của chúng ta, đi đứng, nói năng, lập ý lập ngôn nhất nhất đều muốn chứng tỏ danh tính của công dân thế kỷ 21. Đúng quá, các bạn mà không quan tâm đến yêu cầu hiện đại hóa thì đổ trách nhiệm đó cho ai? Nhưng thế nào là hiện đại? Xin các bạn tham khảo lời di huấn sau đây của Tagore:

- Bất cứ tính hiện đại nào cũng không tùy thuộc vào thời gian mà tùy thuộc vào khí chất.

Khí chất, đó là tinh hoa. Thời gian có thể vượt qua tất cả, kể cả chính nó, trừ tinh hoa. Xem thế thì không phải bất cứ cái gì đến trước đều bị gán ghép oan uổng là lạc hậu, cũ kỹ; ngược lại cũng không phải bất cứ cái gì đến sau đều được phỉnh nịnh là hiện đại. Do đó, quá trình hiện đại hóa văn học phải gắn liền với quá trình nhân đạo hóa đời sống và văn hóa tâm hồn. Như thế trong chiếc máy vi tính xách tay kia, ngoài phần cứng, phần mềm còn cần một bộ phận mềm hơn nữa, đó là một tâm hồn. Mà hình như chiếc máy tính của nhân loại lúc này cũng đang lắm vấn đề mà người ta đang tìm cách chữa, đó là bệnh vô cảm, bệnh sao chép, mô phỏng đơn giản. Và nói đến hiện đại thì thói quen thường thấy là liếc mắt sang phương Tây. Tiếp thu phương Tây là rất cần thiết, nhưng cần đọc kỹ Hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Là bởi vì đã có nhiều thứ của phương Tây trở nên quá đát từ lâu. Và cũng đừng quên rằng, phương Tây cũng khổ sở vì quá nhiều sự quái gở do nó tạo ra và họ đi tìm thuốc chữa từ phương Đông. Để cho những cố gắng hiện đại hóa nền văn học không trở thành công việc gánh bùn sang ao, các bạn đừng chỉ lao phán xét của tương lai mà bỏ quên những câu thần chú của quá khứ, một quá khứ không bao giờ đứng yên mà luôn sống động, không ngừng tiếp sức cho hiện đại và tương lai. Một trong những câu thần chú của quá khứ mà tôi muốn nhắc ở đây hôm nay, đó là lối sống tình nghĩa của người Việt Nam. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã từng bình luận rất hay về lối sống tình nghĩa như sau: "Một khi bị rỗng ruột tình nghĩa thì... mọi học thuyết khoa học xã hội, nhân văn, dù hệ thống lý luận có kiên cố nguy nga đến đâu đi nữa cũng chỉ là những cái vỏ màu mẽ, hão huyền, những bong bóng có thể vỡ tan bất cứ lúc nào!!". Lối sống tình nghĩa là đạo lý, là căn cước dân tộc, căn cước văn hóa quan trọng nhất trong hệ thống giá trị Việt Nam. Hóa ra mọi khát vọng hiện đại hóa văn học chỉ thực sự có nghĩa khi nó được phóng lên từ bệ phóng dân tộc.

Nhìn lại chặng đường vừa qua, thấy có một cách hành xử sai lầm, cho rằng và đã tốn bao mồ hôi để tỏ rằng, hiện đại hóa văn học là hiện đại hóa về hình thức.

Tách rời hình thức, tuyệt đối hóa hình thức ra khỏi chỉnh thể văn học chẳng khác nào đập vỡ chiếc cốc pha lê, biến nó thành những mảnh vụn mà tác dụng duy nhất chỉ có thể là sát thương văn hóa và nhiễm trùng văn hóa.

Lại cũng đã thấy có một cách hành xử khác, cho rằng viết khó hiểu mới sang trọng, dẫn đến tình trạng văn học đang mất dần công chúng. Tìm lời giải sáng sủa vấn đề này, xin các bạn lắng nghe câu thần chú của quá khứ đến từ Tagore, Tagore viết:

- Trò chơi chỉ là trò chơi khi có người chơi nó

Vậy thì viết văn mà không có người hiểu văn nữa, làm thơ mà không còn người hiểu thơ nữa thì văn thơ lập tức biến mất, trở thành con vật tàng hình đang kêu khóc thảm thiết ở đâu đó.

Hướng tới công chúng, sao cho mỗi tác phẩm là một thông điệp nồng nàn với đời sống, thắm thiết niềm tin yêu con người, đó là lẽ phải thông thường của văn học và cũng lá khát vọng cầm bút của chúng ta.

Thưa các bạn.

Bằng tác phẩm của mình, các bạn đã chính thức bước lên những bậc thềm đầu tiên của ngôi đền văn học. Điều đó nói rằng, tài năng của các bạn không còn là của riêng các bạn nữa, nó đã thuộc về cái gì đó rộng lớn hơn, cao vọng hơn. Cuộc sống, sự nghiệp, công chúng đang chờ đợi các bạn. Tất cả đang ở trước tầm tay. Chúc các bạn thành công.

Nhà thơ Hữu Thỉnh

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam


Những cô bé Dao đỏ trên bản Cao Bình

tuyenm 16 July, 2011 22:39 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Cao Bình nằm trên núi cao gần như biệt lập với các thôn khác của xã Hùng Mỹ (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang), cách trung tâm xã chừng 5 cây số. Đường xá đi lại vô cùng khó khăn, trước năm 2006 lên Cao Bình chỉ có một cách duy nhất là đi bộ vượt đèo, giờ đã đã được mở đường lên đến tận thôn nhưng vào mùa mưa thì ô tô, xe máy cũng phải gửi lại chân đèo rồi cuốc bộ... Nơi đây có 2 dân tộc cùng sinh sống là người Dao đỏ và người Tày. Nhân dịp về quê thanh minh tảo mộ, tôi cùng một vài người bạn lên với Cao Bình, với con người nơi đây. Cuộc sống dù còn nhiều khó khăn vất vả nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Xin giới thiệu với các bạn chùm ảnh về những cô bé người Dao đỏ ở vùng núi Cao Bình:

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

alt

Ảnh Ma Tuyên


Khúc hoan ca phía những cổng trời

tuyenm 23 March, 2011 20:59 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

 Loạn phỉ được dập tắt, thời kỳ khống chế kinh tế, chi phối quyền lực của các thổ ty, chúa đất phong kiến đối với vùng đất Đồng Văn cũng vào hồi cáo chung. Nhưng núi cao hiểm trở, đi lại khó khăn; đất canh tác rất hiếm, lổn nhổn toàn đá tai mèo, lại không có nước, toàn miền Đồng Văn vẫn chìm trong đói nghèo lạc hậu.

alt
Quanh co đường lên Mèo Vạc.

Lúa nước hầu như không có. Ngô, cây lương thực chính của người Mông Đồng Văn trồng trong các hốc đất nằm kẹt giữa trập trùng đá núi cho năng suất chỉ khoảng 0,8tấn/ha. Sản xuất nông nghiệp không cung cấp đủ lương thực nuôi sống gia đình, hầu hết người Mông Đồng Văn những năm sau hòa bình (1954) vẫn chỉ trông chờ vào một cứu cánh: thuốc phiện từ cây anh túc.

Thổ nhưỡng, thời tiết khí hậu thích hợp, trồng cây anh túc ở cao nguyên đá không khó. Bất kỳ hốc đá, kẹt núi nào thả hạt cây anh túc xuống đến mùa cũng có được ít nhựa thuốc phiện để thu hoạch. Trung bình mỗi ha đồi núi cũng thu được 1,5-2kg thuốc phiện, bán sang Trung Quốc cũng đủ tiền đong ngô làm mèn mén cho cả gia đình nhỏ sống suốt một nửa năm. Đọt non của cây anh túc, đồng bào Mông hái về luộc hoặc xào ăn thay rau. Khi những cây thuốc phiện còn nhỏ, đồng bào thường cấy rau cải bẹ xen kẽ. Rau cải trồng lẫn cây anh túc cho hương vị đậm đà khác hẳn, nấu canh với thịt chuột núi, ăn với mèn mén, người Mông xem là tuyệt hảo, không kém gì cao lương mỹ vị.

Ông Mã Văn Phứ ở Phố Bảng bảo: "Chỉ ở Đồng Văn  cách đây hơn nửa thế kỷ mới có thứ đặc sản kẹo... thuốc phiện. Bây giờ thì tiệt rồi. Hơn 1/4 thế kỷ nay, tôi cũng không còn nhìn thấy  món này nữa".

Bóp vỡ quả anh túc khô, phía bên trong tuôn ra một ít hạt  li ti  như hạt cải. Đem rang lên, hạt anh túc thơm lừng. Thắng đường đổ vào, ngào cho đến lúc khô, đổ thành thỏi như thỏi kẹo mè (vừng) là có món kẹo thuốc phiện, ăn thơm ngậy và rất bùi. Một thời, hạt thuốc phiện được các gia đình quyền quý ở Đồng Văn mang về Hà Giang, về xuôi làm quà như một thứ đặc sản đầu bảng. Nguồn lợi cao và quen thuộc như vậy nên công cuộc xóa bỏ thứ "thần dược chết người" này ở Đồng Văn vì thế đã trở thành một cuộc chiến gay go, nan giải và dai dẳng.

Từ năm 1959, Đảng và Chính phủ đã quyết tâm mở đường ôtô từ Hà Giang lên Đồng Văn rồi vòng sang Mèo Vạc, nhằm xóa thế bị cô lập của miền đá Đồng Văn, đưa ánh sáng văn minh xóa dần đêm đen đói nghèo lạc hậu, giúp hàng hóa  hai  miền xuôi ngược có điều kiện thông thương. Ngày 10/9/1959, tuyến đường chính thức khởi công. Bác Hồ đã đặt cho con đường này là đường Hạnh Phúc - Quản Bạ - Đồng Văn - Mèo Vạc. Quyền tổng chỉ huy công trường thi công tuyến đường được giao cho ông Vừ Mí Kẻ, lúc đó đang là Chủ tịch huyện Đồng Văn (cũ).

Ông Kẻ sinh năm 1929. Mồ côi nhưng khỏe mạnh, có bản lĩnh, 15 tuổi ông Vừ Mí Kẻ được "Vua Mèo" Vương Chí Sình đưa về dinh Sà Phìn làm chân giữ ngựa. Tuy không họ hàng thân thích, nhưng do bản tính cương trực, chí khí, ông được họ Vương rất coi trọng. Con ngựa quý của Vương Chí Sình cưỡi do đích thân ông chăm sóc. Năm 1946, khi Vương Chí Sình thay  mặt cha (Vương Chính Đức) về Hà Nội diện kiến Hồ Chủ tịch, cậu thanh niên 17 tuổi Vừ Mí  Kẻ cũng được tháp tùng, được vào tận Phủ Chủ tịch trong buổi Hồ Chủ tịch tiếp và kết nghĩa anh em với họ Vương.Sau đó không lâu, khi trở lại Sà Phìn, chính người thanh niên này đã thuyết phục Vương Chí Sình đem gần như toàn bộ tài sản, gồm 22 vạn đồng bạc trắng và 9kg vàng ủng hộ "Tuần lễ vàng" do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động. Vương Chí Sình đã giao cho Vừ Mí Kẻ áp tải số ngân lượng lớn này về Hà Nội.

Ở tuổi 82, ông Kẻ vẫn tráng kiện và minh mẫn để thuật lại chi tiết thử thách lớn đầu tiên của đời mình. Suốt 70 năm đô hộ Đồng Văn, dù muốn, người Pháp vẫn không làm nổi một con đường lên xứ này. Ông và đoàn áp tiêu phải dùng ngựa thồ men lối mòn, nhiều đoạn quá dốc và hẹp phải xuống nắm đuôi ngựa bò lên, đi ròng rã 3 ngày mới tới thị xã Hà Giang. Vương Chí Sình đã bố trí sẵn ôtô đón họ về Phú Thọ, từ đó theo tàu về Hà Nội. Gian khổ, nhưng tiền ủng hộ Chính phủ, ông vẫn đem nộp đầy đủ, không suy suyển một đồng.

Cũng trong khoảng thời gian này, ông đã được giác ngộ và đi theo Cách mạng. Năm 1950, mới 21 tuổi, ông đã được giao trọng trách  Chủ tịch xã Sà Phìn. Bảy năm sau, Vương Chí Sình  lúc này vào tuổi 72 tuổi, viết thư cho Hồ Chủ tịch nại lý do tuổi cao sức yếu đề nghị Chính phủ cử người lên để ông trao lại chức Chủ tịch huyện Đồng Văn (gồm cả Yên Minh, Mèo Vạc và một phần Quản Bạ ngày nay). Cao nguyên đá đang bị đặt trước một giai đoạn cực kỳ khó khăn, bạo loạn đang manh nha bùng nổ, cần có người đủ tài đức và uy tín với đồng bào các dân tộc để đứng mũi chịu sào. Trung ương, Khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Hà Giang đã nhất trí chọn ông Vừ Mí Kẻ làm người tiếp nhận.

Ba năm sau, trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa II năm 1960, ông và Vương Chí Sình, hai con người với hai xuất thân hoàn toàn trái ngược cùng nhau trở thành đại biểu của nhân dân Hà Giang tham gia Quốc hội. Với riêng ông, vị trí đại biểu này, ông còn được nhân dân tín nhiệm bầu liên tục 5 khóa liền!

Ở vị trí hành chính, từ cương vị Chủ tịch Đồng Văn, ông Vừ Mí Kẻ sau đó đã nắm giữ trọng trách Phó Chủ tịch tỉnh Hà Giang, Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tuyên, rồi Chủ tịch UBMT Tổ quốc tỉnh. Ông sống giản dị, thanh bạch. Tài sản có giá trị nhất của ông cho đến khi nghỉ hưu chỉ là một chiếc xe đạp Thống Nhất. Ngày nghỉ, ông cũng tự tay cuốc đất, làm vườn trồng rau, chăn nuôi để cải thiện đời sống.

Có lần, vườn cải bẹ của ông đang lên xanh mơn mởn thì có mấy anh lính biên phòng đi ngang. Ngó quanh ngó quất không thấy ai, tiện tay mấy anh lính trẻ bèn bẻ đại một nắm. Ông trông thấy, ra mắng cho một trận. Lính trẻ không biết đó là ông Phó Chủ tịch tỉnh, hoảng quá xô ông qua một bên bỏ chạy. Ngày hôm sau, anh chỉ huy đồn biết chuyện, lật đật đưa lính đến xin lỗi ông rối rít. Ông Kẻ nghe xong, mắng ầm lên. Mắng vậy thôi, nhưng sau đó, tự tay ông ra vườn cắt một ôm cải to cho các anh lính mang về.

Là người đã đi bộ mòn vẹt núi, ông Kẻ bảo mình rất sung sướng và tự hào khi được Đảng giao làm Tổng Chỉ huy công trường mở đường Hạnh Phúc. Vừa khởi công, loạn phỉ nổi lên, đốt phá công trường, ông đã chỉ huy quân và dân Đồng Văn chống lại, vừa ngăn phỉ, tiễu phỉ, vừa tiếp tục tay choòng, tay búa đẽo đá mở đường. Sau 7 năm ròng rã, hơn 2 triệu ngày công của công nhân, dân công 18 dân tộc các tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Hà - Tuyên và 2 tỉnh Hải Hưng, Nam Định đã hoàn thành tuyến đường ôtô dài 164km, xuyên cao nguyên đá, nối miền cổng trời Mèo Vạc, Đồng Văn với miền hạ Hà Giang. Ngày 15/6/1965, tuyến đường hoàn tất.

Từ sau năm 1964, khi thi công đoạn đường từ Đồng Văn qua Mèo Vạc, huyền thoại chinh phục cổng trời Mã Pí Lèng lại ghi nhận thêm một cái tên khác: Sùng Tài Dùng. Là Bí thư Đoàn thanh niên của công trường, ông Sùng Tài Dùng đã cùng đồng đội treo mình 11 tháng ròng rã trên vực sâu núi thẳm, đẽo đá gọt núi hoàn toàn bằng những phương tiện thủ công để nối thông Mèo Vạc với Đồng Văn. Tận mắt, ông Dùng đã phải chứng kiến 13 đồng đội của mình hy sinh khi bạt núi, có người rơi thẳng từ cổng trời trên ngàn mét xuống sông Nho Quế sâu hun hút phía dưới.

alt
Phiên chợ Đồng Văn.

Sau công tác làm đường, ông Sùng Tài Dùng trở thành Bí thư huyện ủy Mèo Vạc,  Phó Chủ tịch tỉnh, rồi Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Hà Giang. Ông có biệt tài diễn đạt những khái niệm trừu tượng bằng ngôn ngữ hình tượng mộc mạc, dễ hiểu, dễ chinh phục bà con các dân tộc. Có lần, về Trung ương dự hội nghị, được mời lên phát biểu, ông đã nói: "Chính sách của Đảng và Chính phủ với bà con các dân tộc như biển rộng trời cao thì đúng rồi. Nhưng Hà Giang ở cao lắm, sông biển chảy ngược đến nơi khó lắm. Chỉ mong là chính sách của Đảng và Chính phủ đến Hà Giang, nếu không được cuồn cuộn như nước sông Đà thì cũng phải chảy tràn đầy như nước sông Nho Quế, chứ đừng chảy ri rỉ như mó nước mùa khô, cho bà con các dân tộc chúng tôi còn được nhờ...".

Ông nói vừa dứt câu, cả hội  nghị đã đứng dậy vỗ tay rào rào!

Cách  nói mộc mạc nhưng thuyết phục, ông Sùng Tài Dùng là người đã góp công lớn trong việc xóa cây anh túc, thay bằng cây cải dầu trên đất Hà Giang. Ông nói với đồng bào mình: "Trồng thuốc phiện không tốt đâu, Nhà nước cấm rồi. Mình cũng là người Mông, mình không  nói dối đâu. Bà con phải tin mình chứ". Đồng bào tin ông. Đến năm 1987, hai màu trắng - tím của hoa anh túc đã thật sự biến mất vĩnh viễn trên toàn cao nguyên đá.

Hậu duệ của họ Vương Đồng Văn cũng để lại cho cao nguyên một huyền thoại đẹp. Ngay từ khi còn là một thanh niên, ông Vương Quỳnh Sơn, cháu gọi Vương Chí Sình bằng chú ruột đã có nhiều đóng góp trong việc vận động các toán phỉ Đồng Văn, Mèo Vạc buông súng quay về. Đối với đồng bào Mông, ông rất có uy tín. Khi trở thành cố vấn của Ủy ban Dân tộc Trung ương, ông thường được gọi trân trọng bằng danh xưng Vương lão đồng chí. Chính ông đã chủ động liên hệ, thư từ trao đổi với những hậu duệ của "Vua Mèo" Mèo Vạc Dương Trung Nhân - dòng họ đối địch một thời nhằm mục tiêu xóa bỏ hiềm khích, hòa hợp dân tộc. Khi ông Dương Trung Nhân mất, ông đã gửi điện chia buồn, phúng viếng, cử chỉ đầy những ân tình. Đáp lại, ông Dương Đạo, một hậu duệ của "Vua Mèo" Mèo Vạc xưa đã trả lời ông bằng một  bức tâm thư đẫm  lệ:

"Mineapolis ngày 18/3/1995.

Kính gửi ông Vương Quỳnh Sơn, Ban Dân tộc Trung ương, 80 Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, Hà Nội.

Kính thưa anh. Em là Dương Đạo con trai thứ hai của ông Dương Trung Nhân. Em rất cảm động sau gần nửa thế kỷ em được đọc thư anh viết cho anh trai của chúng em.

Trước hết em và tất cả gia đình bên này xin thành thật cảm tạ anh đã gửi lời chia buồn khi cha chúng em Dương Trung Nhân tạ thế. Cha em mất lúc 82 tuổi, tháng 8/1994 ở tiểu bang Minnesota. Cha chúng em để lại Mỹ quốc hai vợ (vợ hai và vợ ba, vợ cả mất năm 1989), 12 con (6 trai, 6 gái), 40 cháu và 27 chắt.

... Em và mọi người trong gia đình em rất lấy làm sung sướng nghe lời của anh là chúng ta nên thương nhau. Chúng em cũng luôn nghĩ như anh. Những chuyện mà đã xảy ra giữa hai gia đình họ Vương và họ Dương chúng ta cách đây 50 năm dù sao cũng là một chuyện buồn.

Trước khi mất, cha em cũng nói rằng hai họ Vương và Dương là như một gia đình. Chúng ta nên xóa những sự buồn của quá khứ để yêu thương giúp đỡ nhau xây dựng một cuộc đời mới văn minh.

Cha em cũng muốn trở về thăm quê hương một lần cuối trước khi nhắm mắt nhưng già yếu quá rồi sợ đi về không đến được quê. Chúng em người thì ở Mỹ, người ở Pháp, ai cũng đều mong rằng một ngày gần đây gia đình anh và gia đình chúng em sẽ có điều kiện gặp gỡ hội ngộ, giúp đỡ nhau xây dựng một cuộc đời mới mở mang cho con cháu sau này.

Em luôn chống lại sự chiến tranh chỉ có phá hoại cho loài người mà ủng hộ sự phát triển giữa các dân tộc...

Cuối cùng em xin anh hãy thông cảm cho em vì không rành lắm tiếng Việt. Xin chúc đại gia đình ta may mắn.

Mr. Yang Dao (Dương Đạo)".

Một quá khứ đau buồn, đầy những xung đột, hiềm khích đã  vĩnh viễn khép lại, nhường chỗ cho một tương lai tốt đẹp trên  cao nguyên đá Đồng Văn. Di sản con người hàng trăm năm cần được nhắc lại, bảo tồn để di sản thiên nhiên hàng trăm triệu năm càng thêm giá trị. Đó là lợi thế tương lai, là vẻ đẹp lấp lánh, không kém phần huyền hoặc của Đồng Văn mà không một công viên địa chất toàn cầu nào khác có được.

Di sản con người ấy sẽ không bao giờ bị lãng quên./.

Nguyễn  Hồng Lam- Báo An ninh thế giới


Bạt núi ngăn phỉ

tuyenm 23 March, 2011 20:54 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

 

alt
Ông Vừ Mí Kẻ - Chánh án phiên xử những tên trùm phỉ năm 1963.

Trong chuyến công tác về Đồng Văn đầu năm 2011 chúng tôi đã được ông Mã Văn Phứ cung cấp nhiều tư liệu và giới thiệu, hướng dẫn đi gặp khá nhiều nhân vật từng tham gia trừ phỉ giai đoạn 1959-1960. Ông Phứ, ở Phố Bảng, SN 1947, là con trai ông Mã Chính Minh, gọi “Nho tướng” Mã Học Văn bằng ông nội.

 Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Vương Chí Sình rời Phố Bảng dọn về sống trong dinh Sà Phìn. Trên danh nghĩa, gia đình họ Vương vẫn nắm quyền lãnh đạo toàn miền Đồng Văn, nhưng quyền lực thực tế thì đã bị thu hẹp đi nhiều.

Yên bình một thời gian, sau năm 1949, Cao nguyên đá lại nổi cơn ba đào. Bên kia biên giới, Giải phóng quân Trung Quốc đã đánh bại tập đoàn quân phiệt Tưởng Giới Thạch. Một bộ phận quân Quốc dân đảng theo Tưởng bỏ chạy ra đảo Đài Loan. Vùng Vân Nam, Quý Châu, nhiều tướng lĩnh quân phiệt Quốc dân đảng không quy thuận Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã dựa lưng vào núi rừng hiểm trở của các miền biên giới giáp  với Việt Nam, Lào, Myanmar thu thập tàn quân đánh trả các đợt truy quét của Giải phóng quân Trung Quốc, mong tìm đất cát cứ giang sơn nhất khoảnh. Hầu hết các đơn vị quân đội lớn của Tưởng thuộc Quân đoàn Vân Nam, gồm  các sư đoàn 93, 28 và 26  do các tướng Lý Mật, Lý Văn Huấn, Mã Thắng Quốc, Lý Thời Văn chỉ huy đều chọn cát cứ làm giải pháp. Tàn quân thu thập đông tới 12.000 người.

Sau  nhiều  chiến dịch truy quét quy mô, đến cuối năm 1950, đám quân  cát cứ  này đều bị Giải phóng quân Trung Quốc đánh bại, đa phần  bị đẩy  bật sang bên kia sông Saluen, trốn vào vùng rừng rậm núi cao của vùng Mong Hxat của Burma (nay  là Myanmar). Các toán bại binh mất chủ  nhỏ lẻ tản ra khắp nơi, trong đó có nhiều kẻ mưu đồ tiến chiếm Cao nguyên đá Đồng Văn lập căn cứ.

Cho đến trước kỳ bầu cử HĐND năm 1959, tuy các địa phương ở Đồng Văn đều đã có chính quyền dân cử, nhưng các vị trí lãnh đạo chủ chốt  vẫn nằm trong tay những người xuất thân quý tộc lớp trên, quyền lực hành chính vẫn gắn chặt  với quyền lợi của dòng tộc, gia tộc. Lợi dụng  tình hình này, các nhóm tàn quân Tưởng đã đẩy mạnh  tuyên truyền, móc  nối, câu kết... với các thành phần quý tộc cũ của Đồng Văn, kích động nổi loạn, chiếm đất nhằm tiến tới thành lập cái gọi là "Vương quốc Mèo độc lập”. Chúng phao lên, "Vua Mèo" Mèo Vạc Dương Trung Nhân  được Mỹ và quốc tế giúp sức sắp trở về cai trị Đồng Văn. Những toán tàn quân Quốc dân đảng  bên kia biên giới được tô vẽ thành "các đạo quân quốc tế" về nước giúp "Vua Mèo" khôi phục lãnh thổ thành lập vương quốc.

Không ít người Mông đã bị phân tâm, mê hoặc bởi luận điệu này, tham gia vào các đội quân mới thành lập vội vã để "đón tiếp vua Mèo". Do tập quán, bất kỳ một thanh niên trai tráng người Mông nào cũng sở hữu  ít nhất  1 khẩu súng kíp. Tuy thô sơ, nhưng khi tập hợp lại, những kẻ cầm đầu bạo loạn cũng đã có trong tay nhiều toán quân đông đảo. Đầu năm 1959, chúng tổ chức đốt phá trụ sở Ủy ban hành chính xã Phố Cáo, bắt cán bộ và đốt phá nhà cửa  của nhân dân ở xã Bạch Đích, cướp chính quyền tại xã Thắng Mố... khởi đầu cho hàng loạt  cuộc bạo loạn ở nhiều địa phương khác.

Đứng trước tình hình dầu sôi lửa bỏng ấy, thái độ của Vương Chí Sình lại rất nước đôi. Khư khư bám lấy quyền lợi thống trị của gia tộc làm mục đích tối thượng, Vương cho rằng, dù Cách mạng hay phỉ nắm được Đồng Văn thì cũng cần đến vai trò của ông ta trong việc tập hợp quần chúng. Tình hình càng lắm tao loạn, vai trò của  họ Vương càng có ý nghĩa. Do đó, tháng 5-1959, Vương Chí Sình đã về Sà Phìn họp bàn với một loạt thuộc hạ chủ chốt gồm Vàng Chúng Dình, Giàng Vạn Sùng, Vàng Chỉn Cáo, Lý Nhè Lùng, Giàng San Sấn, Vàng Vạn Ly... đồng ý cho những kẻ cầm đầu này tụ họp binh mã, mua sắm vũ khí, chiếm các vị trí quan trọng, sẵn sàng chờ thời để nổi dậy thâu tóm chính quyền.

Lực lượng quân sự Mông này đặt dưới quyền tổng chỉ huy của Vàng Chúng Dình. Mã Học Văn và Giàng Vạn Sùng được quyền thay mặt Vương Chí Sình lãnh đạo, khi tình  hình có biến. Còn bản thân, Vương Chí Sình đưa hết gia đình về Hà Nội sống, nhằm tỏ ra vô can không dính dáng gì đến bạo loạn.

Trong số những tay chân họp bàn tại Sà Phìn, Vương Chí Sình đã không chú ý đến vai trò  của Vàng Chúng Dình. Tên này người Trung Quốc, có quan hệ thông gia  với Vàng Vạn Ly, Giàng Vạn Sùng. Ngoài mặt, hắn tỏ ra quy phục họ Vương, nhưng thực chất  hắn là cựu sĩ quan Quốc dân đảng đang tìm đường để đưa các nhóm tàn quân Tưởng từ bên kia biên giới về Đồng Văn chiếm đất hoạt động lâu dài. Vương Chí Sình vừa về Hà Nội, Vàng Chúng Dình đã nhanh chóng đẩy mạnh các hoạt động vũ trang  vượt ra ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của cựu "Vua Mèo". Các đầu lĩnh phỉ khác, vì quyền lợi thiển cận, cũng bỏ ngoài tai những dự định mà Vương Chí Sình  chỉ đạo, răm rắp nghe theo sự chỉ huy của tên đặc vụ Tưởng.

Ngày 30/11/1959, một trung  đội phỉ 40 tên do Vàng Chỉn Cáo  chỉ huy  đã khóa chặt cổng trời Cắn Tỷ, cắt đứt đường giao thông từ Hà Giang lên Đồng Văn. Một ngày sau, bạo loạn "phỉ Đồng Văn" chính thức nổ ra. Hôm sau nữa,  toán phỉ chặn cổng trời đã tấn công bắt  giữ hai  đoàn ngựa thồ hàng của tỉnh lên Đồng Văn, đuổi cán bộ quay trở lại. Một tuần sau đó, hàng loạt địa bàn  các xã trên toàn Đồng Văn  bị các toán phỉ cướp phá, lùng bắt cán bộ, đốt nhà cướp của.

Nhằm tránh nổ ra xung đột vũ trang, ngày 9/12/1959, Khu và Tỉnh ủy Hà Giang đã  cử ba cha con Vương Chí Sình, Vương Quỳnh Sơn, Vương Quỳnh Anh dẫn đầu đoàn cán bộ Mặt trận Tổ quốc lên Đồng Văn thuyết phục các đầu lĩnh phỉ buông vũ khí, giải tán các toán  vũ trang. Lá mặt lá trái, Vương Chí Sình lại bí mật chỉ đạo bọn phỉ: “Đánh thật mạnh để mau chóng giành thắng lợi" (Dẫn theo Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Văn 1944-1975, tập I, trang 117).

Hậu quả là cuộc thương thuyết thất bại hoàn toàn. Từ ngày 12 đến ngày 28/12/1959, hàng loạt cuộc tấn công của phỉ nhằm vào bộ máy chính quyền đã nổ ra  và bị trừng trị đích  đáng. Vàng Chúng Dình dẫn 200 quân đánh vào thị trấn Đồng Văn. Vàng Dúng Mỷ tàn phá  Mèo Vạc, cướp cửa hàng mậu dịch. Ngày 20/12, đầu lĩnh Phàn Chỉn Sài đưa một toán phỉ đánh vào Na Khê, sau đó tiến vào Bạch Đích, bắt cán bộ huyện treo lên cây làm bia cho lính tập bắn. Ngày 28/12, Giàng Quáng Ly chiếm xã Yên Minh, Vàng Chỉn Cáo, Phàn Dền chiếm Cắn Tỷ  và Đông Hà, lùa dân đi làm bia đỡ đạn. Dân phản đối bị chúng giết, quăng xác xuống sông.

alt
Bà Vừ Thị Mỹ và ông Mã Văn Phứ đang ôn lại chuyện bắt phỉ.

Trước tình hình đó, Trung ương và tỉnh Hà Giang đã phải điều động một số đơn vị bộ đội, công an, công an vũ trang phối hợp với dân quân tự vệ địa phương lập nên Đoàn công tác tiễu phỉ. Tội ác và mưu đồ cát cứ Đồng Văn của đám phản loạn cũng bị nhân dân nhận rõ chân tướng. Sự phân hóa đã nổ ra sâu sắc. Ngay trong gia đình họ Vương, trong khi Vương Chí Sình lá mặt lá trái nhằm “ngư ông đắc  lợi” thì hai con trai Vương Quỳnh Sơn, Vương Quỳnh Anh lại rất tích cực đóng góp vào việc vận động tuyên truyền chống âm mưu chia rẽ, cát cứ  và đóng góp nhiều cho công cuộc tiễu phỉ.

Nho tướng Mã Học Văn, người được Vương Chí Sình bí mật giao trách nhiệm thay  mình chỉ đạo tình hình Đồng Văn cũng đã ly khai ý nguyện của chủ cũ để  phục vụ lợi ích chung, sát cánh và giúp sức nhiều cho những cán bộ do cấp trên cử về trong công tác vận động quần chúng và tiễu phỉ. Họ Mã đã một mình tay không vào tận sào huyệt của Vàng Vạn Ly thuyết phục tên này đầu hàng. Vàng không nghe, Mã Học Văn đã lập kế hoạch giúp đoàn công tác tiễu phỉ bắt sống tên này.

Hai con trai của cụ Mã Học Văn là Mã Chính Minh và Mã Chính Lâm cũng là những người có công lớn trong cuộc tiễu phỉ. Năm 1957, khi phong trào thổ phỉ mới manh nha, Mã Chính Minh bị rủ rê đã tham gia từ đầu. Sau đó, anh nhanh chóng nhận mưu đồ đen tối, bị giật dây từ bên ngoài nên đã ly khai, đưa cán bộ, dân quân luồn rừng, bạt núi lần theo dấu phỉ. Người em trai Mã Chính Lâm thì ngay từ đầu đã tỏ ra là một tay hảo hán, chống phỉ quyết liệt, chỉ huy bộ đội, dân quân địa phương đánh nhau với phỉ nhiều trận ác liệt.

Sau nhiều đợt truy quét, lực lượng vũ trang đã đẩy lùi các toán quân phỉ ra khỏi các khu dân cư, nhất là  khu vực Đồng Văn, Phố Bảng, Phố Là, Sủng Là, cổng trời Cắn Tỷ... Những tên bị bắt, ta đưa về Yên Minh giáo dục, sau đó cho về quê quán, chỉ giữ lại bọn đầu sỏ, ngoan cố để tiếp tục đấu tranh.

Hàng loạt huyền thoại mới lại xuất hiện trên Cao nguyên đá. Xã đội trưởng Vần Chải Sùng Dúng Lù đã chỉ huy dân quân, du kích đẩy lui hàng chục đợt tấn công của phỉ, bảo vệ dân (đồng chí Sùng Dúng Lù được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang năm 1967). Vào cuối chiến dịch tiễu phỉ, chính ông là người đã vào tận hang ổ bắt sống Vàng Vạn Ly, sau đó tay không một mình đi khắp vùng Vận Chải thuyết phục được hàng chục kẻ lầm đường buông súng. Hoàng Văn Bách, Chủ tịch thị trấn Đồng Văn, dù nắm trong tay chỉ một trung đội dân quân tự vệ cũng ngoan cường vật lộn suốt 12 giờ đánh bật nhiều đợt tấn công vào thị trấn của 200 tay súng do cựu sĩ quan Quốc dân đảng Vàng Chúng Dình chỉ huy.

Sau thất bại này, tên cầm đầu bạo loạn Vàng Chúng Dình đã cay cú điều thêm 300 quân tấn công Đồng Văn lần nữa, quyết tâm không chiếm được cũng phải phá sạch, đốt sạch. Nhưng, với sự tăng cường của một đại đội vũ trang hỗn hợp gồm cả công an và công an vũ trang,  Đồng Văn vẫn đứng vững, cuối cùng đuổi được Vàng Chúng Dình và khoảng 400 tay súng chạy dài về  khu vực Ma Lé, Mã Sồ sát biên giới.

Không để cho chúng kịp trở tay, các lực lượng vũ trang lại tiếp tục truy kích, Chiến dịch mở ngày 29/1/1960 (29 tết) đến hết ngày 31/1/1960 (mùng 1 tết) thì  thắng lợi hoàn toàn. Gần 400 tên phỉ bị đánh tan tác, phần lớn đều phải buông súng đầu hàng. Vàng Chúng Dình phải tháo chạy về vùng Thập Vạn Đại Sơn thuộc Vân Nam (Trung Quốc) để lẩn trốn.

Chưa bắt hoặc diệt được tên đầu sỏ, mầm bạo loạn sẽ vẫn còn chưa dứt, Ban chỉ huy chiến dịch quyết tâm lập kế điệu hổ ly sơn. Từ chỗ phao tin "Vua Mèo sắp trở lại, Mỹ và quốc tế can thiệp giúp Đồng Văn thành lập Vương quốc Mèo" nhằm lừa bịp nhân dân, sau nhiều cuộc tấn công, quấy rối nhưng đều thảm bại, Vàng Chúng Dình bị cô lập, mù thông tin, đâm ra ảo tưởng, bị lừa bởi luận điệu lừa bịp do chính mình tung ra.

Khi Vàng Chúng Dình đã quá mệt mỏi và tuyệt vọng thì có hai vị  cứu tinh là Vừ Sảo Cờ và Mùa Chứ Dính xuất hiện. Cả hai người này đều có quan hệ họ tộc hoặc thông gia với gia đình Vàng Chúng Dính. Họ cho biết, một phái viên cao cấp do chính quyền Ngô Đình Diệm cử ra  đã bí mật có mặt tại Đồng Văn, sẵn sàng gặp Vàng Chúng Dình để mưu bàn đại sự hoặc đón tên này vào Sài Gòn, từ đó đi Đài Loan.

alt
Bà Vừ Thị Mỹ đang giới thiệu vị trí núi Tỉa Cẩu Chùa - nơi Vàng Chúng Dình ẩn náu.

Sau nhiều lần kiểm tra, Vàng tin răm rắp, đồng ý rời đất Tàu theo "hai người anh em cứu tinh"  về rúc trong hang đá biệt lập ở núi Tia Cẩu Chùa (góc Vách Đá), xã Phố Là. Đưa đường cho gã là Thào Giống Lùng, người trong xã. Tại hang này, gã đã được gặp "đặc phái viên" Vũ Âu Lạc và một kẻ đưa đường khác, từng tham gia quân phỉ từ thời manh nha là... Mã Chính Minh, hàng ngày cùng Vàng bàn bạc "quốc sự”.

Hang đá treo lưng chừng núi dựng đứng, muốn trèo lên  phải dùng dây thừng, sau đó gọi cho người trong hang bắc thang xuống. Hang cách biên giới, khu Tổng Cản, huyện Phú Lình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc không xa, khoảng 4km.

Mỗi ngày ba bữa, cô Vừ Thị Mỹ, vợ của Thào Giống Lùng đều từ Phố Là lên núi, đu dây lên hang cung cấp thức ăn, củi sưởi cho Vàng. Mỗi lần đều có một con gà, một lạng hạt tiêu và một ít thuốc phiện. Khi có ông “đặc phái viên” và hai người nữa cùng lên hang thì số gà mỗi bữa tăng lên 3 con.

Tên trùm phỉ không hay biết rằng tất cả chỉ  là một cái bẫy. Ông Vũ Âu Lạc là một cán bộ an ninh đóng giả vai “đặc phái viên”. Những người khác liên quan cũng đều  là thành viên đoàn tiễu phỉ.

Một tuần sau khi  tay "đặc phái viên” xuất hiện, Vàng đồng ý rời hang. Cả nhóm vừa đi được một đoạn thì bất ngờ có thêm một người tướng to cao, chắc khỏe xuất hiện. Vừa kịp nhận ra người đó là Mã Chính Lâm, Huyện đội trưởng Đồng Văn mà mình đã cố công giết cho bằng được trong hai đợt tấn công vào thị trấn, Vàng đã bị Mã quật ngã và bắt sống.

Rắn bị đánh giập đầu, loạn thổ phỉ lắng dần, đến năm 1962  thì  tan rã hoàn toàn. Phiên tòa xét xử những tên trùm thổ phỉ diễn ra vào năm 1963. Người ngồi ghế chánh án là ông Vừ Mí Kẻ, người Mã Phài từng được Vương Chí Sình tin cậy giao áp tải 22 vạn đồng bạc trắng và 9kg vàng về Hà Nội ủng hộ “Tuần lễ vàng” năm 1945. Với phiên tòa này, quyền lực phong kiến cát cứ đã thực sự chấm dứt hoàn toàn trên Cao nguyên đá, trả lại cho Đồng Văn sự thanh bình để bắt đầu vào mùa xây dựng  đi dần lên no ấm./.

Nguyễn Hồng Lam - Báo An ninh thế giới


Những trang sử đá

tuyenm 17 March, 2011 21:27 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Hành trình lên với miền địa đầu Hà Giang, cực Bắc tổ quốc, bây giờ khá dễ dàng. Thông tin về miền đất quyến rũ này thì lại càng tràn ngập sách, báo, các trang mạng. Đất thiêng tột Bắc nước Việt Nam, ngay cả khu cột cờ Lũng Cú vốn hiểm trở, bây giờ đường sá cứ veo veo.

Ôtô lên tận nơi, bản Lô Lô Chải giữa heo hút tận cùng dải biên cương phương Bắc này, giờ bà con cũng làm du lịch son phấn lẫy lừng, cũng home stay cho khách ngủ tại nhà, cũng đoàn văn công í a í ới.

Thấy mình già sọm đi

Cột cờ Lũng Cú vốn là một cây sa mộc dài 13m, thẳng vút, kiêu hùng, rồi xây thành cột bêtông khổng lồ, các mặt ốp hình trống đồng, trên nóc treo cờ đỏ sao vàng rộng 54m2, tượng trưng 54 dân tộc anh em trên nước Việt Nam; nay có điều kiện, ta “trùng tu” xây cái cột trị giá 25 tỉ đồng, to, cầu kỳ vĩ đại. Mừng, nhưng nhiều  người cũng nuối tiếc, phàm những chỗ hành hương, những nén tâm nhang và tấm lòng yêu thiên nhiên, bản sắc xứ sở, cứ gì phải nhất nhất là to đẹp và mới?

Tôi nhớ nôn nao những ngày chiếc xe U-oát của Bộ Tư lệnh Biên phòng chở chúng tôi phải nằm ở tít ngoài xã Ma Lé, anh em đi bộ vào đồn Lũng Cú, ăn nhờ ngủ chực, rồi lếch thếch leo qua vách núi, qua cánh đồng Thèn Pả, buốt lòng với đám trẻ người Lô Lô nhếch nhác trong gió mùa Đông Bắc luồn lỏi như kim châm, rồi bở hơi tai leo lên khu vực cột cờ Lũng Cú. Cán bộ trạm cứ thở than, chao ôi là gió lớn, cờ lớn, gió to, gió xé cờ tơi tả, bọn tôi chỉ những lên thay cờ cũng đã mệt rồi. Nhưng mà đó là cái mệt nó làm mình tự hào, mình được đồn trú ở đất thiêng này. Nghe kể, bắt đầu từ năm 1978, lá cờ rộng 54m2 đã được treo ở vị trí thiêng này.

Đường vắt vẻo qua dốc Chín Quai hôm nay.

Chúng tôi lái ôtô thẳng vào khu vực chân cột cờ Lũng Cú, đồng hành có nhiều bạn trẻ đủ Bắc, Nam, du học sinh và mấy cậu học sinh người Mông ở Đồng Văn. Tôi hỏi chuyện gì liên quan đến Lũng Cú họ cũng ậm ừ. Cái họ muốn là leo lên cực Bắc tổ quốc, chụp ảnh và khoe ai đó, hoặc ai đó hỏi thì “tớ cũng lên đấy rồi đấy nhé”. Bất giác, tôi thấy mình già sọm đi, dường như, lần nào lên Hà Giang, trôi dốc trèo đèo Đồng Văn, Mèo Vạc, tôi cũng miên man như một ông già hay kể chuyện cho con cháu bằng cái giọng kẻ cả “chúng tao ngày xưa”, “chúng mày bây giờ”.

Tôi không muốn thế, cũng không nghĩ mình đã già, nhưng cái miên man buồn vì phong trào du lịch mà chẳng chạm đến được cho xứng tầm với cái tuyệt vời của miền địa đầu nồng say Hà Giang thì rất thật. Rất là da diết. Trước khi được làm mới cho đàng hoàng, to đẹp hơn - đầu tư khoảng 25 tỉ đồng (năm 2010) - cột cờ Lũng Cú cũng đã to lắm, nó mới được xây vào cuối năm 2002: ở độ cao 1.700m so với mực nước biển, cột cao 20m, theo vóc dáng của cột cờ Hà Nội, phần đế có 6 mặt mô phỏng hình trống đồng Đông Sơn. Cột cờ mới cao 33,15m; đi trong lòng cột cờ, vượt qua 135 bậc thang mới tới đỉnh.

Đặc biệt, chân cột có hình bát giác, với mỗi cạnh là đá xanh, mô phỏng các giai đoạn của lịch sử dân tộc. Quý hoá quá. Song, dù chỉ là cây cột pơ-mu, hay trước kia chỉ là đỉnh đồi có hai hồ nước bốn mùa xanh thắm không vơi cạn giữa đỉnh trời (tương truyền là hai cái mắt của con rồng thiêng), thì Lũng Cú vẫn là cực Bắc Việt Nam, vẫn thiêng liêng trong tâm thức mỗi người. Địa thế đẹp kỳ lạ, không gian biên giới mơ màng, Lũng Cú, có thuyết dịch là Long Cư, nơi rồng thiêng đang ngự, thế nên hai hồ nước lạ ở vùng cao nguyên muôn đời khô khát mới gọi là mắt rồng.

Thuyết khác nói, Long Cổ, nghĩa là cái trống của vua. Rằng, sau đại thắng quân xâm lược nhà Thanh, Vua Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng ở trạm gác biên ải này, mỗi ngày, ba hồi trống vang rền bốn cõi, khẳng định chủ quyền quốc gia. Bấy giờ, trống đồng là phương tiện vang xa nhất, đồng bào mỗi ngày nghe tiếng trống, là hiểu biên thuỳ vẫn bình yên, lời thiêng của vua nước mình vẫn còn đó. Nghe nói, trạm biên phòng Lũng Cú bây giờ, chính là chỗ Hoàng đế Quang Trung đặt Long Cổ ngày trước.

Cảnh phá đá mở đường năm 1963 ở Mã Pí Lèng (tư liệu Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3).

Miền đất của những “kỷ lục” dữ dằn

Bây giờ, ở chung quanh vùng cột cờ Lũng Cú, bà con người Lô Lô vẫn sử dụng trống đồng trong hội hè, tang ma, như người dưới xuôi sử dụng trống da trâu! Trống đực, trống cái, trống đánh xong phải chôn xuống đất kẻo sợ con rồng dữ đến cướp mất. Lại nữa, cao nguyên Đồng Văn (gồm 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh) là miền cao nguyên đá duy nhất của Việt Nam. Tóm lại, cái vẻ đẹp của “văn hóa” đá tai mèo, “văn hóa” đèo dốc và các cộng đồng người “sống trên đá chết vùi trong đá” là bản sắc xuyên suốt nơi này.

Thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam một miền đá miên man khốc liệt, đói nghèo lầm lạc từ đó, mà di sản kỹ vĩ đắm say cũng từ đó. Núi Cô Tiên với hai bầu ngực mơn mởn ở Quản Bạ, dốc Bắc Sum xoắn như cái ruột gà, đèo Mã Pí Lèng là đệ nhất hùng quan của trời Nam với những vách đá vôi cao nhất thế giới tạo ra những hẻm vực rợn người. Các cổng trời như Quản Bạ, đặc biệt là cổng trời Cán Tỉ, thì đúng là ở Việt Nam không có hiểm địa nào kiểu “một người địch muôn người” như thế. Núi cao chất ngất án ngữ con đường thiên lý, các khe hẹp, các đỉnh đèo hiểm trở hiện ra, chỉ một người đứng trên cao, nghìn quân không vượt qua được.

Thiên nhiên dữ dằn, khốc liệt đã khiến mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu, tháng 10 năm 2010 họp tại Hy Lạp, đã chính thức công nhận cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên. Đây là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, công viên thứ hai của Đông Nam Á.

Các cựu TNXP mở đường Hạnh Phúc gặp lại “chiến trường xưa” sau 50 năm bị quên lãng và xa cách (cuộc gặp xuất phát từ đề xuất của chúng tôi). Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Nhưng cũng chính thiên nhiên dữ dằn đó đã sinh ra những câu chuyện lịch sử chẳng giống ai. Khoảng đầu những năm 1960, có nạn đóng cổng trời, nổi phỉ. Cũng vì đèo dốc, sương mù, chênh vênh biên tái, nên vùng Đồng Văn từng được mệnh danh là “Hồng Kông, Ma Cao của Việt Nam” bởi nạn nghiện hút, trồng thuốc phiện bán ra nước ngoài thành từng đường dây khổng lồ, nhiều thế lực cùng ra tay muốn biến “ma tuý đen” này thành sức mạnh cho các mưu đồ chính trị đen tối. Cũng vì thế, nên cao nguyên đá bây giờ mới có “chứng tích” không thể bỏ qua về các thủ lĩnh vùng cao như Vương Chí Sình, Dương Trung Nhân...”.

Nếu ai đó muốn thử tay lái của mình, xin hãy một lần đi vòng quanh các cung đường chóng mặt, vặn xoáy của địa đầu mê tơi phía Bắc Việt Nam. Đã xuyên qua cao nguyên đá, bạn hãy tin, bạn có thể xuyên bất kỳ vùng nào của Việt Nam, cốt sao có đường và có... xe. Trước, đường lên thị xã Hà Giang hiểm trở vô cùng, ôtô đi được từ hồi thuộc Pháp, nhưng nhiều đoạn hoang vu đến mức chỉ có hai bánh xe là có đường thôi, còn dưới gầm xe đang bon, cây cỏ mọc lúp xúp, kín bưng.

Năm 1959, khi Chính phủ quyết định mở đường vào Đồng Văn, Mèo Vạc, lãnh đạo tỉnh Hà Giang lúc bấy giờ, có nhiều người quyết liệt phản đối, lý do đơn giản là không thể làm đường xuyên qua đá được đâu. Nói như bà con người Mông, bao giờ con dê đực biết đẻ thì đường ôtô mới vào được đến Mã Pí Lèng. Con đường mà khi mở nó tốn nhiều ngày công nhất, làm liên tục nhiều năm nhất, hy sinh nhiều người nhất... của cả lịch sử mấy nghìn năm nước Việt Nam, chắc chắn là đường Hạnh Phúc dài gần 200km từ thị xã Hà Giang đi Mèo Vạc.

Bây giờ, trước cửa huyện ủy Mèo Vạc thời mới vẫn còn một tấm bia, nó được dựng năm 1963, kể về 8 năm ròng rã, hơn 2 triệu ngày công của thanh niên của 16 dân tộc, thuộc 8 tỉnh đã bỏ ra để làm đường. Họ làm một cách thủ công, hiện đại nhất là chế ra cái xe gòng để giải phóng đôi vai.

Sau đó, Trung ương có huy hiệu riêng của thanh niên làm đường Hạnh Phúc, có nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người ngã xuống cho con đường được khai sinh (đặt tại Yên Minh). Đặc biệt, ở đỉnh đèo Mã Pí Lèng hiện nay, cũng còn khắc tấm bia, phải mất 11 tháng trời, thanh niên của 8 tỉnh phải treo mình trên vách đá thì mới mở được đường qua nơi này.

Tôi từng bấm máy tính, chia 2,2 triệu ngày công cho con số 365 (số ngày trong một năm) để thử tính xem, một người liên tục làm, thì bao nhiêu năm mới đạt con số 2,2 triệu ngày công. Xin thưa, mất 6.027 năm (sáu nghìn không trăm hai mươi bảy năm!). Như thế để thấy sức người, chỉ tay trần, xà beng, mũi dùi bằng sắt, họ khảm tuổi xuân, sức trẻ của mình vào đá để mở đường. Con đường ra đời, hơn 8 vạn đồng bào của hơn 10 dân tộc của 4 huyện vùng cao nguyên đá tỉnh Hà Giang được lần đầu tiên nhìn thấy đường ôtô.

Tưởng nhớ những người đã ngã xuống cho con đường hồi sinh.

Chết cho con đường được khai sinh

Nhiều lần trong số rất nhiều lần lang thang tìm kiếm tư liệu về lịch sử vùng cao nguyên đá, khi đã thấy ảnh mình chụp người ta tự động phóng to treo trên đỉnh Mã Pí Lèng cổ động du lịch, khi đã kết nối được nhiều cựu thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc (sống khuất nẻo ở các tỉnh thành suốt 50 năm qua ước mơ một lần được trở lại con đường xưa, nơi một phần quan trọng trong tuổi trẻ của mình đã gửi ở đó, nơi nhiều bạn mình vĩnh viễn nằm lại...), chúng tôi bèn đề nghị mở một cuộc triển lãm về “50 năm mở đường Hạnh Phúc”, đề nghị cho các vị “anh hùng” kia trở lại chiến trường xưa.

Tư liệu của chúng tôi được tham gia trưng bày, đã là kim chỉ nam cho cán bộ Bảo tàng Hà Giang đi sưu tầm hiện vật. Đặc biệt, trong những ngày gần những người gần đất xa trời trở lại đỉnh Mã Pí Lèng – nơi họ đã tạo nên kỳ tích anh hùng, dùng cơ bắp mình phá đá mở con đường khủng khiếp nhất Việt Nam - có một câu chuyện “rợn người” đã được kể lại, với nhiều nhân chứng, vật chứng không thể sinh động hơn. Rằng, trong 11 tháng buộc dây vào người, đu trên vách đá, mở từng milimét đường qua Mã Pí Lèng, mỗi ngày, đội Cơ dũng (cảm tử) đều chào lá cờ tổ quốc, chào bạn bè trước khi đu mình xuống vực sâu, với tâm trạng, mình hoàn toàn có thể chết trong ngày hôm đó. Chết cho con đường được khai sinh.

Trên đỉnh núi cao, có 11 cỗ quan tài đóng sẵn cho 11 người. Con đường đã ra đời từ dòng máu anh hùng, xả thân vì đất mẹ như thế. Ông Đào Ngọc Phẩm đã rơi xuống đáy vực, thi thể nát nhừ, ông Minh, ông Thuỳ (đang sống ở thị xã Hà Giang) đã đi nhặt xác bạn, thả vào một cỗ quan tài, chôn ở gốc đa Pả Vi gần đó.

Sau này, khi đã đến hầu khắp các điểm “cực” xa xôi, tận cùng, hiểm trở nhất của Việt Nam, tôi cũng không gặp một địa đầu nào mà lại mỗi vòng xe lăn mỗi huyền thoại như điểm khởi đầu cực Bắc - những trang sử đá đẹp sững sờ, có cái gì thật khốc liệt và mênh mông chi xứ này.

Đỗ Doãn Hoàng

Báo lao động

 


Sống chết với Đồng Văn

tuyenm 17 March, 2011 21:25 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)
alt
Ông Vương Chính Đức cùng vợ ba và con trai út Vương Chí Chư.

Ký hòa ước với Pháp, nhận sắc phong của triều đình nhà Nguyễn, Vương Chính Đức đã gần như độc bá quyền lực khắp châu Đồng Văn. Khi xây dinh thự họ Vương tại Sà Phìn, ông đã tỏ rõ ý chí quần hiền tụ sĩ của mình bằng cách cho ngoã lên trước cổng vào dinh một đôi câu đối: "Gia quý hiền nhân xuất nhập/ Môn phong lưu khách vãng lai" (Nhà quý hiền, người vào ra/ Cửa phong lưu, khách lui tới). Dưới chân bờ rào đá trước dinh là một khoảng sân rất rộng, đủ chỗ để buộc hàng trăm cỗ ngựa.

Mọi hoạt động xử lý công việc cai trị Đồng Văn, đón tiếp khách khứa bốn phương lẫn sinh hoạt của "Vua Mèo" Vương Chính Đức và ba bà vợ đều diễn ra trong dinh thự nằm lẫn giữa rừng sa mộc này. Tiếp khách hoặc xử án, Vương Chính Đức đều ngồi tại dãy nhà ngang cuối cùng, nơi cao nhất, an toàn nhất trong khu dinh nếu có tấn công từ bên ngoài vào. "Vua Mèo" ngồi ghế kê trên thềm cao, tội nhân bị buộc quỳ trên sàn ở gian trước, cách chỗ "Vua" ngồi một khoảng sân, khoảng cách đủ làm nhụt chí kẻ có tội đang bị trói nghiến, nếu kẻ đó có ý đồ manh động.

Hai hầm tầng trệt ở hai bên tả hữu chỗ "Vua Mèo" ngồi chính là nơi đặt hai kho chứa vàng bạc và thuốc phiện. Khách quen, có hiểu biết một chút sẽ không quá khó để nhận ra dụng ý của Vương Chính Đức. Mọi sắp xếp, xây dựng, trang trí, bố trí trong dinh thự đều chứng tỏ chủ nhân của nó mang một ám thị sâu sắc  về ý nghĩa biểu trưng và sự cân đối, đối xứng. Dưới tán những gốc sa mộc vững chãi kia, quyền sinh sát một mình ông thâu tóm.

Sà Phìn là trung tâm quyền lực của người Mông Đồng Văn, nhưng ngoại trừ dinh thự nhà Vương, ở xung quanh thời đó vẫn không hề có bản làng của thứ dân nào cả. Một thứ quyền uy tối thượng và biệt lập. Thủ phủ thật sự của Đồng Văn thực tế đóng ở Phố Bảng, cách Sà Phìn 13km đường đèo. Trước khi Hòa ước Pháp - Mèo (được ký tháng 10/1913), đường vào Phố Bảng rất hẹp, chỉ đủ chỗ cho đoàn ngựa thồ xếp hàng một lên đèo xuống dốc. Hòa ước ký xong, người Mông nhất mực từ chối đi phu, đi làm xâu, người Pháp phải thuê người Hán ở khu Tổng Cản, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đối diện với Phố Bảng sang bạt núi, mở rộng đường. Sau đó, họ lại thuê người Khách (người Hẹ ở Quảng Đông, Trung Quốc) qua đẽo đá xây nên đồn Phó Bảng, thiết lập sự chiếm đóng và cai quản.

Phố Bảng là cửa ngõ của mọi giao thương trên miền Đồng Văn. Nằm ở độ cao lưng chừng trời, lại toàn đá và đá, đất canh tác ở Đồng Văn rất hiếm. Trồng ngô, đậu hay rau cải trong những kẹt đất hiếm hoi giữa các hốc đá, năng suất cực thấp, hầu như không đủ để nuôi sống người dân bản địa. Ngược lại, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết ở đây lại hết sức thích hợp với cây anh túc. Mỗi ha trồng anh túc thu được từ 1,5-2kg thuốc phiện mỗi vụ, trồng vài ba hécta, tiền bán thuốc phiện đủ để cho một gia đình người Mông sống cả năm. Thời gian còn lại tha hồ cho họ múa khèn, uống rượu, đám trai tráng tha hồ tập cưỡi ngựa, phóng lao và bày trò chơi chiến trận.

Đường về xuôi khó khăn, thuốc phiện Đồng Văn thường được bán sang Trung Quốc đổi thành ngựa to, lừa tốt, vải lanh từ Vân Nam, muối, gạo đường... từ Quảng Tây và quay trở lại Đồng Văn, tất tật đều qua ngả Phố Bảng. Để khóa chặt cửa ngõ mậu dịch tự do và dòng chảy thuốc phiện sang Trung Quốc, Pháp phải cố sống cố chết giành cho được quyền quản lý Phố Bảng và mở đường về miền hạ Hà Giang, từ đó về xuôi nhằm tận thu thuốc phiện tiêu thụ nội địa.

Ý đồ của Pháp, thương nhân Hoa Hán phát hiện ra ngay. Làm đường, xây đồn Phố Bảng xong, cả người Hán Vân Nam lẫn người Hẹ Quảng Đông đều không chịu về nước mà tìm cách ở lại Phố Bảng chiếm đất lập phố, buôn bán tấp nập (cho đến tận ngày nay). Không lâu sau, Phố Bảng đã khá sầm uất, buôn bán nhộn nhịp, được mệnh danh là Hồng Công thứ hai trên cao nguyên đá.

Tất nhiên Vương Chính Đức cũng không khoanh tay ngồi nhìn nguồn lợi của mình bị người Pháp và người Hoa Hán chia nhau xâu xé. Triệt để khai thác lợi thế đã được Hòa ước Pháp - Mèo công nhận, ông vẫn giành cho mình trọn quyền đại lý thuốc phiện. Mỗi lạng “vàng đen” bán ra khỏi đất Đồng Văn đều có phần nhất định của ông. Lợi dụng con đường về xuôi vừa mở, ông cho mua ngay một căn nhà ở phố Hàng Đường, Hà Nội đặt đại lý, đưa thuốc phiện Đồng Văn về xuôi phân phối ra khắp nơi đồng thời mua gạo, muối, dầu hỏa, đá lửa, vải vóc và nhiều loại nhu yếu phẩm khác chở ngược lên Đồng Văn, buôn bán kiếm lời cả hai chiều. Toàn bộ công cuộc kinh bang này, ông giao cho Vương Chí Sình (Vương Chí Thành) trông coi.

alt
Phế tích đồn binh Pháp do người Hẹ (Trung Quốc) xây dựng tại phố Bảng.

Vương Chí Sình sinh năm 1885, là con trai thứ hai, người giàu chí hướng nhất  trong số 4 con trai của "Vua Mèo". Ông  được ăn học khá đến nơi  đến chốn, thông thạo cả Hoa văn và Pháp văn. Theo lệnh thân phụ, ông đã lấy vợ và sinh sống tại Phố Bảng chứ không đưa gia đình về sống trong dinh Sà Phìn. Cơ ngơi  cũ  của Vương Chí Sình hiện nay được sử dụng làm nhà văn hóa Phố Bảng. Tại đó, Vương Chí Sình đã mở đại  lý trông coi việc buôn bán của gia tộc, sau đó mua thêm các chức "trứ do", "chếnh tra", “trại tra" (trưởng bản, trưởng xóm, trưởng thôn) cho mình và bộ tướng  để củng cố thêm quyền lực. Do công việc buôn bán, Vương Chí Sình quen biết rất nhiều sĩ quan, quan lại cả Pháp lẫn Nam Triều ở Hà Nội. Viên quan ba chỉ huy đồn Phố Bảng cũng  là "chiến hữu" của ông.

Nhìn rõ dã tâm nuốt trọn Đồng Văn của Pháp, sau khoảng 15 năm "tự quản" theo tinh thần hòa ước, cha con Vương Chính Đức - Vương Chí  Sình bắt đầu bí mật tái vũ trang đội quân riêng của mình. Từ năm 1930, Vương Chí Sình đã được thân phụ giao trọn quyền mua vũ khí, ngựa chiến (từ tiền  thuốc phiện) để chủ động đón đầu thời cuộc nhằm bảo vệ quyền lực cai trị Đồng Văn.

Đầu năm 1936, Pháp ráo riết mộ lính, xây đồn, đắp chiến lũy ở Đồng Văn. Quyền cai trị có nguy cơ bị đoạt lại, cha con họ Vương quyết định "tiên hạ thủ vi cường". Giữa năm đó, đích thân Vương Chí Sình đã chỉ huy dân binh Mông tập kích một đoàn tiếp vận lớn của Pháp tại đèo Lao Va Chải (nay thuộc Yên Minh) diệt sạch toàn bộ đoàn hộ tống và cướp hết quân lương, quân trang, quân dụng. Để trả đũa, Pháp vờ vịt làm ngơ, vẫn mời rất đông các thủ lĩnh Mông, trong đó có cả Vương Chính Đức về Hà Nội tham dự đấu xảo, sau đó bắt giữ và tống giam toàn bộ.

Vương Chí Sình phải tạm thời quay trở lại hòa hoãn với Pháp, đích  thân bí mật xuôi xuống Hà Nội tìm cách cứu cha. Bỏ ra 800 đồng bạc Đông Dương, Vương đã nhờ một sĩ quan cao cấp từng quen biết quay về Pháp gõ cửa nhiều nơi trong chính phủ và Bộ Thuộc địa Pháp. Phải mất gần một năm, tay sĩ quan đầu cơ chính trị này mới quay trở lại, mang theo quyết định của Chính phủ Pháp trả tự do cho toàn bộ thủ lĩnh Mông bị bắt giữ. Quyết định có ghi: "Nếu ai bị chết trong thời gian bị giam giữ, chính quyền Pháp phải cấp tiền để gia đình đưa về quê chôn cất chu đáo". Đến giữa năm 1938, Vương Chính Đức và tất cả các thủ lĩnh Mông đều được thả.

Trong gần 2 năm lo chạy đôn đáo  cứu cha, mọi quyền "điều binh khiển tướng" ở Đồng Văn, Vương Chí Sình đều khoán trắng cho tay tâm phúc của mình  là Mã Học Văn. Người  nhỏ thó, chỉ cao 1m50, nhưng trong cộng đồng người Mông Phố Bảng, Mã Học Văn vẫn  nổi lên như một tay kiệt hiệt. Ông thạo chữ Hán, biết tiếng Pháp, thông kim bác cổ và đầy mưu lược. Trong thời kỳ tranh chấp giữa người Mông Phố Bảng và người Hoa Hán ở Tổng Cản, họ Mã được người dân Phố Bảng nhất trí bầu làm "tụa thị tra" (đại đội trưởng), chỉ huy đội dân binh Mông đẩy lùi sự lấn chiếm, giành đất  của những  kẻ đến từ bên kia biên giới.

Mã Súa Lìa, em trai Mã Học Văn là con rể Vương Chí Sình cho nên ngay từ những ngày  đầu thay cha điều hành chính sự, Vương Chí Sình đã  chú ý đến Mã Học Văn. Đến năm 1930, họ Vương chính thức mời họ Mã tham gia "triều chính". Mã  Học Văn được  xem như "tể tướng" của "vương triều" thu nhỏ họ Vương. Không hổ là Nho tướng, họ Mã đã một tay quán xuyến hết mọi công việc nội trị, ngoại giao của họ Vương dưới thời Chí Sình.

Nhật vào Đông Dương, lấn lướt quyền hành của Pháp. E ngại trước sức mạnh của đạo quân Thiên hoàng nhưng cũng lo lắng trước viễn cảnh mất quyền lực tại Đồng Văn, đã có lúc cả Vương Chính Đức lẫn Vương Chí Sình tỏ ra phân vân trước quyết định  hợp tác hay bất hợp tác với Nhật. Riêng Mã Học Văn trước sau vẫn chủ trương chống Nhật. Họ Vương nghe theo.

Tháng 3/1945, Nhật hất cẳng Pháp. Khi quân Nhật tiến lên Hà Giang thì các đồn binh Pháp trên rẻo cao này đều kéo nhau... bỏ chạy hoặc nhanh chóng quy hàng. Mã Học Văn chủ trương không để quân Thiên hoàng kéo lên Đồng Văn. Theo sách lược của ông, một lần nữa, Vương Chí Sình lại tự mình dẫn một trung đội dân binh Mông lên chốt chặn Lao Va Chải và đánh tan một đại đội tinh nhuệ của Nhật đang trong thế chủ quan. Nhật dốc sức tăng quân đánh mạnh, chiếm được đồn Phố Bảng, quân Mông lại dũng cảm tập kích các toán Nhật hành quân lẻ, dùng súng hỏa mai cướp súng cối của Nhật.

alt
Lối vào mặt trước dinh thự “Vua Mèo” ở Sà Phìn.

Sau đó, dưới tài chỉ huy của Vương Chí Sình, một lần nữa đạo quân thiện chiến của Nhật lại phải nếm mùi thất bại trên cánh đồng và con đường cửa ngõ dẫn vào Phố Bảng. Một đại  đội bộ binh và một trung  đội kỵ binh của Nhật đã phải nằm phơi xác. Điều đáng chú ý: đây  là thảm bại lớn nhất của quân Thiên hoàng trong các cuộc giao tranh trên chiến trường Đông Dương trong Thế chiến thứ hai.

Thất bại thảm hại, Nhật buộc phải theo chân Pháp cách đó 32 năm, ký với "Vua Mèo" Vương Chính Đức một thỏa ước, trong đó Nhật chấp nhận "bồi thường chiến phí" cho người Mông. Hòa ước quy định rõ: gạo, muối, bạc trắng, quân Nhật phải bồi thường đầy đủ đến từng gia đình người Mông bị thiệt hại, đồng thời phải giữ nguyên quyền tự quản của người Mông. Đổi lại, những cuộc hành binh "ngoài vùng  đất Mông" của quân Nhật, người Mông sẽ không tập kích quấy nhiễu. Cho đến trước khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, đây là lần duy nhất quân Nhật phải ký một hiệp ước với vị trí kẻ bại trận. Còn với "Vua Mèo" Vương Chính Đức, cả Pháp lẫn Nhật đều phải thừa nhận thảm bại dưới tay ông - điều mà không một thủ lĩnh kháng chiến nào khác ở các xứ thuộc địa châu Á làm được.

Chấp nhận cho Nhật đưa quân vào Phố Bảng, chủ trương của Vương Chính Đức, Vương Chí Sình  và Mã Học Văn đã khiến các nhà viết sử sau này lúng túng trong việc nhìn nhận thái độ, vai trò của các thủ lĩnh Mông trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền của Cao nguyên đá. Tuy nhiên, thời gian càng lùi xa, quyết định đó càng được thừa nhận là sáng suốt. Bị Nhật hất cẳng, một bộ phận quân Pháp bỏ Phố Bảng, Đồng Văn chạy sang Vân Nam bắt tay với quân Tưởng Giới Thạch chống Nhật.

Lợi dụng tình thế, đúng vào hồi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp tàn cuộc với thất bại dốc xuống phe Trục, Tưởng Giới Thạch đã điều Tập đoàn quân Vân Nam do 2 tướng Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy áp sát cửa ngõ biên giới Việt Nam, lăm le đục nước béo cò. Sự toàn vẹn của Cao nguyên lâm nguy trước dã tâm. Ký hòa ước với Nhật, họ Vương đã tạo ra cơ hội và điều kiện để dàn quân ngăn ý đồ tiến xuống phía nam của một đạo lớn quân Tàu Tưởng, giữ trọn  miền biên viễn.

Hồ Chủ tịch là lãnh tụ sáng suốt đã nhìn thấu và đánh giá cao chủ trương đúng đắn này. Vì thế, khi kết nghĩa anh em với ông Vương Chí Sình, Hồ Chủ tịch đã tặng họ Vương một đôi bảo kiếm có khắc 2 vế đối: "Tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ".

Năm 1947, trước khi mất, Vương Chính Đức đã viết thư cho Hồ Chủ tịch đề nghị Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử người lên tiếp quản Đồng Văn. Gần 10 năm sau, năm 1956, Vương Chí Sình, người thay cha giữ quyền lực cao nhất ở Đồng Văn lại đề nghị bàn giao chức Chủ tịch, quyền lãnh đạo Đồng Văn và toàn vùng biên cương lân cận cho người của chính phủ, còn mình thì đưa gia đình về Hà Nội sống trong vai trò một đại biểu Quốc hội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hai khóa I và II. Thay ông làm Chủ tịch Đồng Văn là ông Vừ Mí Kẻ, nguyên là một Mã phài (người giữ ngựa) trong dinh thự “Vua Mèo”  ở Sà Phìn nhưng đã sớm giác ngộ và đi theo Cách mạng!

Theo Nguyễn Hồng Lam - Báo An ninh thế giới


Thuốc phiện và Quyền lực

tuyenm 12 March, 2011 21:22 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

alt

Vương Chính Đức sau ngày ký Hòa ước Pháp - Mèo năm 1913 

 

So với lịch sử hình thành địa chất từ 5 triệu đến 500 triệu năm thì lịch sử con người - xã hội của cao nguyên đá Đồng Văn, từ thuở sơ khai hàng ngàn năm cho đến những đợt thiên di gần hơn cách đây vài ba trăm năm chỉ là một sát - na thời gian. Trong khoảnh chớp mắt ấy của vũ trụ, những va đập, tranh chấp của con người cũng kinh khủng không kém gì những vận động tạo sơn - những vụ đụng chạm cỡ hành tinh, của tự nhiên.

Hiện nay là 77%, nhưng trước Cách mạng tháng Tám 1945, người Mông chiếm tới 88% toàn vùng Cao nguyên Đồng Văn. Trong cơ cấu nhân học, người Mông đích thực là một đại tộc trong  một siêu tộc, nhân số tổng cộng lên đến gần 10 triệu người. Bất hạnh thay, những biến cố thời Trung cổ đã đẩy họ ngày một rời xa ra khỏi miền phát tích, trở thành một dân tộc ly tán khắp nơi trên thế giới. Bài ca thiên di của một dân tộc hàng  ngàn năm đi tìm đất sống tiếp tục được người Mông cất lên ở những vùng đất phên dậu, nơi luôn xảy ra tranh chấp cương thổ giữa các quốc gia. Ngày nay, đó là khu vực biên giới phía bắc của các nước Đông Nam Á.

Dựa lưng vào những rặng đá cao chót  vót và hiểm trở, mỗi đoàn dân thiên di - thường là theo dòng họ - chiếm cứ một khoảng trời riêng, tự cai quản với các thủ lĩnh cai trị của riêng từng vùng. Tranh chấp, xung đột... nổ ra không ít, nhưng ít nhất, ở cực Bắc (và cả nhiều nơi khác ở Đông - Tây Bắc) Việt Nam, đoàn ly dân ấy cũng đã tìm được một  không gian sinh tồn cùng các sắc dân khác để viết tiếp những chương mới bi tráng cho dân tộc mình. Không có chữ viết, những biến cố lịch sử hàng trăm năm của người Mông trên cao nguyên đá đã bị bụi thời gian phủ lấp trong quên lãng. Ký ức lịch sử  miền Đồng Văn vì thế chỉ còn đọng lại trong một khoảng thời gian khá mới mẻ, từ khi thực dân Pháp chiếm đóng được Hà Giang vào năm 1887.

Tuy xây dựng được 3 đồn binh Bạch Đích, Yên Minh và Đường Thượng nhưng thực dân Pháp vẫn phải công nhận  và dựa vào tầng lớp thổ ty, địa chủ phong kiến các dân tộc ở địa phương để thiết lập một bộ máy thống trị theo bậc thang xã - tổng - châu - tỉnh. Quyền lực thực dân vẫn buộc phải chấp nhận chế độ "quân sự quản chế", nghĩa là  mỗi dân tộc, dòng họ đều có quyền thiết lập một đạo binh riêng, bảo vệ địa bàn và quyền  lợi của thủ lĩnh dòng tộc kiêm chúa đất. Toàn miền Đồng Văn được chia thành 4 khu vực chính.

Khu vực phía bắc (huyện Mèo Vạc ngày nay) do thổ ty Dương Tụ Nghĩa (tiếng Mông đọc Dương là Giàng) cai quản. Đoạn giữa (nay là huyện Đồng Văn) do thổ ty Nguyễn Chánh Quay quản lý. Khúc kế tiếp từ Sà Phìn đến Phố Bảng do thổ ty Vương Chính Đức chiếm cứ. Phần phía nam, thuộc huyện Yên Minh ngày nay do hai thổ ty Nguyễn Chánh Tư và Nguyễn Doãn Quý (người Kinh) thống trị.

Với sách lược "chia để trị", ở mỗi dân tộc, thực dân Pháp lại công nhận sự tồn tại của một bộ máy cai trị riêng. Người Mông phân quyền từ trên xuống có Tổng giáp - Mã phài - Séo phài. Vùng các dân tộc Tày, Dao, Giáy, Kinh có Chánh tổng - Lý trưởng - Trưởng thôn - Kỳ mục. Vùng  người Thái  do Bang tá  đứng  đầu. Trong 3 đồn binh được thiết lập giai đoạn đầu, đồn Đường Thượng do một thổ ty người Thái - Bang tá Đào Văn Ất - chỉ huy, đặt dưới sự chỉ đạo quân sự toàn vùng của một viên quan ba người Pháp.

Đấu tranh vũ trang chống Pháp vẫn nổ ra liên tục. Trong 3 năm (1903 -1905), quan binh Pháp đã nhiều lần phải điêu đứng bởi liên tục bị các toán quân khởi nghĩa do thủ lĩnh người Mông Sùng Mí Chảng chỉ huy tập kích. Nghĩa quân lấy núi Tù Sán làm căn cứ. Đáng tiếc, khởi nghĩa Sùng Mí Chảng không có điều kiện liên kết rộng rãi với thủ lĩnh dân tộc của các nơi khác trong vùng, lại thiếu chặt chẽ trong tổ chức nên đã bị Pháp cài người, mua chuộc, phá hoại làm tan rã.

Phía Mèo Vạc, thổ ty Dương Tụ Nghĩa không giấu giếm ý đồ thâu tóm quyền lực Mông và bành trướng sự thống trị lên toàn vùng cao nguyên đá. Ông tự xưng là "Vua Mèo", thuê thợ từ châu Vân Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc sang dựng cho mình một tòa lâu đài bằng đá khối và gỗ quý ở xã Sủng Chà. Tỏ rõ năng lực lãnh đạo của  một ông vua (tự xưng) trong việc giải quyết những khó khăn trong đời sống của "thần dân", đồng thời tìm cơ hội phát triển cho xứ sở đang cai quản, Dương Tụ Nghĩa đã cho mời thầy phong thủy Tàu sang Sủng Chà nhắm tìm nơi xây hồ trữ nước, trồng sen, thả cá trên đá núi.

Nhờ khéo nhắm địa thế, dù không có nước mạch, hồ treo Sủng Chà vẫn quanh năm đầy ắp khoảng 10.000m3 nước, nhờ tích tụ và giữ lại được nước mưa. Ý tưởng, sự nghiệp cùng danh vị "Vua Mèo" của ông được con trai là Dương Trung Nhân tiếp tục phát huy và khuếch trương.

Ngày nay, dinh thự đá của "Vua Mèo" Mèo Vạc đã bị phá hủy, nhưng hồ treo của nhà họ Dương thì vẫn còn. Toàn huyện Mèo Vạc đã xây dựng  thêm 9 hồ chứa nước lớn gấp hàng chục lần hồ cũ của họ Dương, trong đó có cả hồ Sủng Chà đã được mở rộng. Có thể xem "Vua Mèo" Dương Tụ Nghĩa là "nhà thủy lợi học" đầu tiên trên cao nguyên đá, người đầu tiên có sáng kiến xây hồ treo trữ nước.

Được Pháp công nhận nhưng khi tìm cách mở rộng quyền lực ra toàn cao nguyên đá, họ Dương Mèo Vạc đã vấp phải một trở lực lớn từ dòng họ Vương (Vàng) ở Đồng Văn.

Sau một thời gian chống nhà Thanh và cùng nhân dân Việt Nam đánh Pháp, Lưu Vĩnh Phúc thu quân Cờ Đen về bên kia biên giới Việt - Trung. Tàn quân Cờ Đen ở lại Hà Giang do Hà Quốc Trường chỉ huy, tuy vẫn phản Thanh, kháng Pháp nhưng đã biến chất thành một đám giặc cỏ, liên tục sát hại  hàng loạt thủ lĩnh các dân tộc thiểu số, nhằm độc chiếm Hà Giang, nuôi ý đồ hùng cứ vùng rẻo cao Hà Giang kéo dài qua tận bên kia sông Nho Quế thuộc Châu Vân Sơn (Vân Nam, Trung Quốc), lập tiểu quốc riêng để xưng bá. Pháp - Thanh đã nhiều lần hợp binh tiễu trừ nhưng vẫn không diệt được đám thảo khấu Cờ Đen, ngược lại còn phải chịu nhiều tổn thất.

Vương Chính Đức, tên thật theo tiếng Mông là Vàng Dúng Lùng sinh năm 1865 ở làng Pá Tró (làng Con Gấu), xã Sà Phìn (nay thuộc huyện Đồng Văn). Thông minh, rất giỏi thổi khèn Mông, ở tuổi 30, Vàng Dúng Lùng được người Mông Sà Phìn, Phó bảng bầu lên làm thủ lĩnh thay cho thủ lĩnh Vàng Dí Tủa không may đột tử vì... bội thực.

Vàng Dúng Lùng đã đưa nghĩa quân Mông vào rừng rậm, núi cao lập nên các đội "nghĩa binh hươu nai" đương đầu với giặc Cờ Đen. Đến năm 1900, đạo giặc cỏ Pháp phục không được, Thanh hàng không xong đã bị "nghĩa binh hươu nai" tiêu diệt. Hà Quốc Trường bị chặt đầu. Giành Đồng Văn vào tay người Mông, Vàng Dúng Lùng tiếp tục chỉ huy nghĩa binh kháng Pháp và chống lại âm mưu lấn chiếm của nhà Thanh.

 

alt
Dinh thự nhà Vương Chính Đức trở thành di tích đón khách tham quan.
alt
Đá kê cột nhà và họa tiết trang trí đầu đao đều mang hình quả anh túc.

 

Trong 9 năm trời, “nghĩa binh hươu nai” dựa vào núi đá hiểm trở, đèo dốc cheo leo đã liên tục bẻ gãy tất cả các đợt tấn công lên Đồng Văn của các đạo binh Pháp. Đến năm 1909, Pháp điều một đạo quân hỗn hợp lớn từ Bảo Lạc (Cao Bằng) sang, phối hợp với các đạo địa phương binh khố xanh Tày - Thái tấn công Đồng Văn. Trận chiến khốc liệt, Vàng Dúng Lùng thua trận, buộc phải nhường Đồng Văn cho Pháp đóng đồn.

Lại rút vào rừng, ông tiếp tục mộ binh đánh Pháp. Sau 4 năm ròng rã, đến tháng 10/1913, Vàng Dúng Lùng đã giành thắng lợi vang dội. Pháp phải ký Hòa ước Pháp - Mèo với nhiều điều khoản có lợi cho người Mèo. Đó là Pháp  phải triệt thoái quân đội khỏi Đồng Văn, gồm cả các đội quân lê dương lẫn các đội quân bản địa do Pháp chỉ huy, trả Đồng Văn lại cho người Mông cai quản bằng chế độ tự trị, dưới quyền một đại lý Pháp và một bộ máy hành chính có tính chất đại diện của triều đình nhà Nguyễn. Muốn thu mua thuốc phiện, các đại lý thuốc phiện Pháp phải tăng giá lên 5 lần, từ 2 hào lên 1 đồng cho mỗi lạng (tính theo đơn vị cân vàng). Hòa ước này được ký bởi một bên là tướng Pháp Jenera  Pecneucin và bên kia là Vàng Dúng Lùng, ký tên theo chữ Hán là Vương Chính Đức.

Thật ra, khi ký một hòa ước tưởng chừng như đầy bất lợi như thế, chính quyền thực dân Pháp đã nhằm đến việc đạt được tình thế có lợi lớn hơn. Kéo dài  giao tranh, Pháp khó có thể giành  thắng lợi tuyệt  đối trước đội quân thông thạo địa hình do Vương Chính Đức lãnh đạo, biết tận dụng tối đa địa hình hiểm trở để kháng chiến  lâu dài. Trong khi đó, không lập lại được trật tự, Pháp sẽ mất một khoản lợi  to lớn từ thuốc phiện.

Từ  năm 1897, sau khi nhậm chức, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã xác định thuốc phiện là quốc sách, là nguồn thu lớn nhất cho ngân sách thuộc địa của nhà nước bảo hộ. Tại Sài Gòn, chính quyền đã cho xây hẳn một nhà máy chuyên nấu thuốc phiện. Lãi thu được từ thuốc phiện chiếm tới 1/3 tổng thu nhập của toàn Đông Dương. Với năng lực cung cấp khoảng 20 tấn thuốc phiện/năm, Đồng Văn có khả  năng thay thế một lượng thuốc phiện lớn phải nhập về từ vùng vịnh Bengal (Ấn Độ)  từ Công ty Đông Ấn. Quyền lợi kinh tế buộc chính quyền thuộc địa phải hy sinh, cắt giảm quyền lực quân sự.

Thắng lợi, uy tín của Vương Chính Đức đã cao hơn hẳn, đánh bạt ảnh hưởng quyền lực của Dương Tụ Nghĩa và sau này là con trai kế vị Dương Trung Nhân, giúp họ Vương gần như độc chiếm nguồn lợi thuốc phiện của toàn xứ Đồng Văn. Nguồn lợi này lớn đến mức, Vương Chính Đức dám bỏ ra 150.000 đồng bạc trắng, thuê thợ từ Quảng Tây, Trung Quốc về Sà Phìn xây một tòa lâu đài đồ sộ có cả thảy 64 phòng bằng đá khối  và gỗ samu. Cả đá, gỗ và ngói lợp cũng đều được mua từ Quảng Tây chuyển sang. Mất 8 năm, công trình  mới hoàn tất, Vương Chính Đức lại cho đặt  120 gốc samu khác từ Quảng Tây đem về  trồng thành một vạt rừng bao quanh dinh thự.

Đoạn cuối cùng của tòa dinh, ông cho xây dựng 2 buồng kho, tường bằng  đá phiến, mặt ngoài dày 1,4m, mặt trong dày 0,8m, bảo đảm đạn súng cối hay bộc phá cũng không thể phá. Phía trên 2 nhà kho là hệ thống công sự, lỗ châu mai, vọng gác. Một kho cất giữ vàng, bạc, châu báu, cửa duy nhất đi thông sang nhà bà vợ hai. Kho kia chỉ để cất trữ thuốc phiện, thông cửa và giao chìa khóa cho bà vợ cả.

Trong “Tuần lễ vàng” do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động, Vương Chí Sình (tên tiếng Mông là Vàng Seo Lử, sinh năm 1885), con trai và là người kế vị Vương Chính Đức còn cho  người mang về Hà Nội 22 vạn đồng bạc trắng và 9kg vàng  để ủng hộ chính phủ Cụ Hồ.

Trong khu dinh thự họ Vương, tất cả các phiến đá kê cột nhà đều được tiện, gọt thành hình quả thuốc phiện. Sau khi mài nhẵn, chúng đều được dùng những đồng bạc trắng (piastre) đánh cho bóng loáng, biến màu đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô.  Họa tiết trang trí trên đầu đao kèo nhà cũng được tiện hình quả thuốc phiện. Một cách ám chỉ,  cả  nền móng quyền lực lẫn mục đích, khuynh hướng phát triển của nhà họ Vương, của người Mông và toàn cao nguyên đá Đồng Văn đều  được đặt trên quả anh túc.

Năm 1928, Vua Khải Định đã ban cho Vương Chính Đức một bức hoành phi đại tự có 4 chữ "Biên chinh khả phong" cùng thẻ bài  và mũ  mão đại thần, chính thức công nhận quyền lực của họ Vương  nơi biên ải. Kể từ đây, người Mông  Đồng Văn gọi ông  là Chính Vương, xem ông  như "Vua Mèo" thực thụ. Danh vọng nhà họ Dương ở Mèo Vạc  bị lu mờ dần. Xích mích  giữa hai nhà đã dẫn đến nhiều cuộc xung đột, kể cả xung đột vũ trang.

Đến năm 1953, "Vua Mèo" tự phong đất Mèo Vạc thất thế trước "Vua Mèo" được suy tôn ở Đồng Văn, phải đưa cả gia đình về Hà Nội, sau đó theo Pháp di cư vào Nam, cuối cùng  sang Mỹ định cư tại bang Minnesota, chấm  dứt vai trò lịch sử một dòng cự tộc người Mông đối với lịch sử Cao nguyên đá. Dương Trung Nhân mất  tại Mỹ vào năm 1984, thọ 82 tuổi.

"Vua Mèo" họ Vương tiếp tục ở lại Sà Phìn, đồng hành  cùng các biến cố của Đồng Văn, tiếp tục sản sinh ra những huyền thoại mới trong thời đại của những con người "tận trung báo quốc, bất thụ nô lệ"!

Theo Nguyễn Hồng Lam - Báo An ninh thế giới 


Huyền thoại trên cao nguyên đá

tuyenm 25 February, 2011 14:12 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

 

Ngày 3/10/2010, tại Lesvos (Hy Lạp), cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) đã chính thức trở thành thành viên của Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu GGN (Global Geoparks Network). Đây là nơi duy nhất trên toàn thế giới có quần thể dân cư sinh sống lâu đời ngay trong khu vực công viên địa chất.

Đáng tiếc, hầu hết các dân tộc sống trong lòng di sản thiên nhiên rộng lớn ấy (ngoại trừ người Dao) đều không có chữ viết nên không có nền văn hiến, thư tịch lưu truyền. Lịch sử, văn hóa của hàng chục dân tộc anh em trên một vùng thiên nhiên kỳ vĩ chỉ được khám phá như những huyền thoại, ẩn hiện như khói sương lan tỏa trên các triền dốc dựng đứng của nơi  từng được mệnh danh  là "xứ sở của những cổng trời"..

KỲ I: NHỮNG CUỘC THIÊN DI

Chúng tôi có mặt tại Đồng Văn vào cận tết Tân Mão, đúng vào những ngày đầu tiên của đợt rét đậm, rét hại kéo dài cả tháng. Buổi sáng sớm, nhiệt độ vào khoảng 7-80C. Rét buốt, dường như không chỉ du khách lười ra đường mà ngay cả đến đá bản địa cũng chẳng muốn cựa mình. Núi đá trập trùng với những triền dốc hình thành nên những cổng trời nổi tiếng Quản Bạ, Cắn Tỷ, Mã Pí Lèng,... cũng im phăng phắc như đang vùi trong giấc ngủ đông dằng dặc. Sâu hun hút dưới chân Mã Pí Lèng (nghĩa là đèo “pín” ngựa), đoạn từ Đồng Văn xuyên sang Mèo Vạc, sông Nho Quế cũng bất động một vệt sáng bạc, chỉ hiện ra mờ  mờ sau lớp sương dày vừa bị những tia  nắng hiếm hoi cuối mùa đông xé rách.

Tuy đã là di sản, là thành viên của mạng lưới công viên địa chất toàn cầu, miền đá Đồng Văn vẫn "ngủ yên", theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Chưa có thêm bất kỳ một hoạt động xây dựng, khai thác nào xứng tầm và song hành cùng danh hiệu "di sản địa chất thế giới". Ngay cả cổng chào hay panô, bảng hiệu cũng chỉ mới được dựng thêm dè dặt vài  ba cái ở đầu mỗi huyện lị. Vật liệu xây dựng thô sơ, không giấu giếm ý nghĩa tạm bợ, tượng trưng, sẵn sàng để được tháo dỡ, thay thế  bất kỳ  lúc nào...

Thật may mắn, chuyến ngược Hà Giang tôi được đồng hành cùng ông Mã Ngọc Giang, Giám đốc Ban quản lý dự án Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn và Tiến sĩ Mai Thanh Sơn của Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Là nhà quản lý, ông Giang nắm số liệu dân cư, địa hình, loại hình di sản và chủ trương bảo tồn, khai thác Công viên Địa chất cao nguyên đá Đồng Văn trong lòng bàn tay.

Tiến sĩ Mai Thanh Sơn, nickname "sonhmong" thì lại là người đã có nhiều công trình nhân học - dân tộc học nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một số dân tộc vùng Bắc và Tây Bắc, nhất là với người Mông, quần thể chủ nhân đông đảo nhất của vùng cao nguyên đá. Những thắc mắc của tôi vì thế đã không mất nhiều thời gian để tìm câu trả lời.

Ông Mã Ngọc Giang cho biết, từ nay đến hết tháng 6/2011, nhiệm vụ của BQL Dự án là  hoàn tất hồ sơ để phục vụ cho công tác thẩm định theo yêu cầu của GGN. Có tất cả hơn 100 di sản, trong đó có trên 10 di sản quốc tế cực kỳ quý hiếm như hẻm núi Mã Pí Lèng, núi đồi Quản Bạ, hóa thạch cổ sinh, voọc mũi hếch, cây thông đỏ, cây 7 lá 1 hoa... cần được nghiên cứu, đánh giá, thẩm định tỉ mỉ trước khi "chạm tay" vào. Sớm nhất cũng phải đến đầu năm 2012, những dự án tác động đầu tiên, cả vật chất lẫn tinh thần vào cao nguyên đá mới bắt đầu, tránh kiểu can thiệp "xây không bằng phá" đã từng xảy ra một cách đáng tiếc đối với không ít miền di sản khác.

Ôm hết mỏm cực Bắc Việt Nam, miền đất di sản Cao nguyên đá Đồng Văn trải rộng trên một khu vực 2.352km2 gồm 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Trước khi chia tách vào năm 1962, cả 4 huyện này được gọi chung là cao nguyên Đồng Văn. Dân số hiện tại của vùng công viên địa chất vào khoảng 250.000 người, trong đó người Mông đông nhất, chiếm khoảng 77%. Văn hóa Mông, tập quán người Mông... do đó cũng in dấu đậm nét nhất trên vùng đất này. Ngoài ra còn có thêm 16 dân tộc khác như Tày, Dao, Nùng, Lô Lô, Giáy, La Chí, Pà Thẻn, Cờ Lao, Kinh... quần tụ hợp thành một đại gia đình các dân tộc sống rải rác trong 224 làng bản khắp cao nguyên đầy những triền đá.

Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh núi Rồng, có độ cao trên 1.700m so với mực nước biển. Cách đó chỉ chừng 200m đường chim bay là điểm cực Bắc của đất Việt, nằm giữa lòng sông Nho Quế, ranh giới tự nhiên phân chia cương thổ 2 nước Việt - Trung. Ngay tên gọi của điểm địa đầu cũng đã chứng tỏ  mảnh đất này là nơi sinh sống từ rất lâu đời của nhiều dân tộc khác nhau. Chữ Lũng Cú được giải thích là từ đọc trại của nhiều âm Hán Việt khác nhau, gồm Lùng Cư, Long Cổ, Long Cư, Long Cú... với nhiều ý nghĩa khác nhau như Đất Trồng Ngô, Sừng Rồng, Trống Rồng, Mắt Rồng, hay vùng Đất Rồng, tùy theo quan niệm và cách phát âm của các dân tộc sống quanh đó. Cột cờ đầu tiên được Lý Thường Kiệt dựng nên bằng nguyên một gốc samu lớn đem về từ Quảng Tây (Trung Quốc) sau khi hạ thành Ung Châu trên đất Tống, năm 1076.

Dưới chân cột cờ có một bản người Lô Lô lâu đời, tiếng địa phương gọi là Lô Lô Chải (bản người Lô Lô). Đến giữa tháng 1/2011, Lô Lô Chải vẫn chỉ có 96 nóc nhà, 492 nhân khẩu. Ít ỏi, nhưng những người Lô Lô này cùng với một bản người Pu Péo nhỏ khác bên kia núi Rồng lại là những chủ nhân đầu tiên của cao nguyên đá, tổ tiên họ là những người có mặt sớm nhất và có công khai phá đầu tiên miền đất Đồng Văn, trước cả thời điểm Lý Thường Kiệt dựng cột cờ Lũng Cú.

Bản Lô Lô này còn giữ 2 báu vật là cặp "khà dừ" (trống đồng), một trống đực, 1 trống mái có niên đại từ thế kỷ XIV. Ngày thường, trống được chôn xuống đất, khi có tang ma hay lễ lạt lớn mới được đào lên, chọn đàn ông đã yên bề gia thất, hội đủ tiêu chuẩn thủ trống. Từ cặp trống đồng này, người Lô Lô Chải có thêm một cách giải thích, rằng Lũng Cú là cách đọc âm của từ Long Cổ, nghĩa là Trống Rồng!

Đồng chủ nhân của cao nguyên đá Đồng Văn, người Tày là dân tộc có kho tàng phonklore (văn hóa dân gian) rất phong phú. Bên cạnh những nét tương đồng trong quan niệm, tín ngưỡng... với các dân tộc  láng giềng, kho tàng sử thi, thần thoại, truyện cổ tích, dân ca, tục ngữ Tày còn hàm chứa rất nhiều nét tương đồng văn hóa lúa nước với các tác phẩm truyền miệng cùng thể loại của người Kinh ở miền xuôi. Tuy nhiên, chỉ có người Dao là sắc dân cổ ở Đồng Văn có văn tự riêng, một kiểu chữ Nôm Dao dùng ký tự chữ Hán ghi cách đọc âm tiếng Dao như kiểu chữ Nôm của người Việt miền xuôi.

Người Mông được ghi nhận đến muộn hơn, mãi cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII mới có mặt tại Đồng Văn. Về nguồn gốc, tuy còn rất nhiều tranh cãi, song các nhà dân tộc học hầu như đều đồng ý rằng, người Mông Việt Nam nói chung và người Mông cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang) nói riêng là một đại tộc tách ra từ liên minh bộ lạc Cửu Lê sinh sống tập trung ở vùng Kinh Châu - Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc). Liên minh bộ lạc này hình thành trên cơ sở sự thống nhất các bộ lạc Miêu - Dao cổ có lịch sử khoảng 5.000 năm.

 

alt
Cột cờ Lũng Cú nhìn từ Lô Lô Chải.
alt
Đèo Mã Pí Lèng từ Đồng Văn qua Mèo Vạc.

 

 

Suốt một tiến trình lịch sử dài dằng dặc, trong sự giao thoa, khi tương tác, khi chống đối với đại tộc Hán, liên minh bộ lạc Miêu - Dao đã có những biến động chia tách lớn cả về hai mặt địa lý và xã hội. Sau hàng thiên niên kỷ, địa bàn sinh sống của người Cửu Lê đã ngày một bị dồn sâu xuống phía tây nam khu vực địa bàn của người Hán, tập trung chủ yếu ở vùng Cao nguyên Vân - Quý (Vân Nam - Quý Châu). Trong quá trình thiên di, xã hội Cửu Lê cũng biến động dữ dội nhiều đợt, vừa phân rã, vừa phát triển thành các tộc Tam Miêu, Kinh Man, Kinh Sở, Vũ Lăng Man và cuối cùng phân hóa thành các tộc Miêu - Dao như ngày nay.

Tiến sĩ Mai Thanh Sơn cho rằng: "Cho đến nay, chưa ai có thể đưa ra một giả định có tính thuyết phục về thời gian cũng như trình tự phân hóa của các hệ phái Miêu". Kết quả của chuỗi phân hóa này lại tiếp tục hình thành nên hàng loạt sắc dân Mông mang các đặc điểm vừa mang nét tương đồng, vừa có sự khu biệt, gọi bằng những cái tên Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh, Mông Hoa, Mông Trắng... Quá trình phân tách diễn ra chủ yếu trong thời Minh - Thanh. Như vậy, về nguồn gốc, trước khi xuất hiện và cùng chung sống trên cao nguyên Đồng Văn, hai dân tộc Mông và Dao đã có quan hệ rất gần về nguồn cội.

Để lý giải nguyên nhân thiên di của người Mông vào Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa vào những biến động xã hội ở khu vực Nam và Tây Nam Trung Quốc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Tuy nhiên, về mốc thời gian lẫn nguyên nhân lịch sử, các giả thiết đều mang những điểm "chỏi" nhau cơ bản và gay gắt. Giả thiết được xem là hợp lý nhất, được nhiều nhà nghiên cứu cả Trung lẫn Việt đồng tình nhất có khuynh hướng gom quá trình thiên di này thành 4 đợt có quy mô lớn.

Đợt thứ nhất diễn ra vào mạt kỳ nhà Minh, giữa thế kỷ XVII. Trong hai năm 1658-1659, quân Thanh lần lượt đánh chiếm Quý Dương (Quý Châu) và Côn Minh (Vân Nam), đuổi Vua Minh Vĩnh Lịch chạy sang Myanmar. Hơn 2.000 người Mông thuộc 4 dòng họ là Vù, Hạng, Lý, Giàng - vì tránh loạn lạc - đã từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam di cư đến vùng núi Việt Nam, gần biên giới Việt - Trung.

Đợt thứ hai diễn ra vào nửa sau thế kỷ XVIII, theo Tiến sĩ Mai Thanh Sơn thì có thể sau thất bại của cuộc "khởi nghĩa Càn Gia" (1795 - 1796), đi thẳng từ Từ Quý Châu, xuống cao nguyên Đồng Văn. Đợt thứ ba vào nửa cuối thế kỷ XIX, thời các triều vua Hàm Phong, Đồng Trị nhà Thanh, thủ lĩnh của các dòng họ Lý, Dương, Vù và Vàng dẫn đầu các đoàn người Mông từ Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Vân Nam chia làm 3 đường trong vòng 5 năm (một đường qua Quảng Tây, hai đường qua Vân Nam) tiến xuống vùng núi rộng lớn thuộc cả Đông và Tây Bắc Việt Nam.

Đợt di cư thứ tư - đợt lớn nhất - diễn ra sau cuộc chiến tranh Nha phiến của Trung Quốc (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Hơn 1 vạn người Mông chia làm nhiều đoàn theo nhiều con đường khác nhau tiến vào khu vực miền núi ở cả phía Đông và phía Tây Bắc Việt Nam, trong đó có các huyện vùng cao nguyên Đồng Văn. Một bộ trong họ chỉ lấy Bắc và Tây Bắc nước ta làm điểm dừng chân, rồi tiếp tục di cư sang Đông và và Đông Bắc Lào, sau đó sang Đông Bắc Thái Lan.

Còn có một nguyên nhân xã hội khác bắt nguồn từ tập quán canh tác "đao canh hỏa chủng" (tức phát - đốt - chọc - trỉa). Đất đai canh tác bị thu hẹp và giảm độ phì, tình trạng "nhân mãn" xảy ra, người Mông từ phương Bắc lại di cư thành từng đợt lẻ tẻ theo từng nhóm nhỏ lùi dần về phương Nam. Tiến trình này xảy ra liên tục trong nhiều thế kỷ.

Bất đồng trong cách kiến giải về nguyên nhân và mốc thời gian, nhưng hầu hết các kết quả nghiên cứu lẫn tài liệu điền giả đều có xu hướng thống nhất rằng nguồn gốc người Mông cao nguyên Đồng Văn khởi phát từ cao nguyên Vân - Quý, đông nhất là từ Quý Châu. Nhiều bản làng Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng câu hát: "Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta. Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê".

Gia phả chép bằng chữ Hán của Giàng, họ Vàng ở Đồng Văn, Mèo Vạc cũng khẳng định tổ tiên họ sang Việt Nam đã được 16-17 đời, khoảng trên dưới 300 năm. Nơi đến đầu tiên được xác định là các xã thuộc huyện Mèo Vạc hiện nay. Trong dân ca được lưu truyền trong cộng đồng Mông nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Pháp, Mỹ, Thái Lan có một đoạn rất phổ biến kể về nơi phát tích: "Con cá ở dưới nước/ Chim bay ở trên trời/ Chúng ta sống ở vùng cao/ Con chim có tổ, Người Mông ta cũng có quê hương/ Quê hương ta là Mèo Vạc...".

Không nghi ngờ gì nữa, Mèo Vạc, rồi toàn vùng cao nguyên đá Đồng Văn, ngoài di sản địa chất tự nhiên còn  mang trong lòng nó cả một di sản nhân học - dân tộc học đồ sộ. Đó sẽ là một di sản điểm nhấn, một mục tiêu nghiên cứu quan trọng và hấp dẫn đối với giới khoa học và những người  thích khám phá trên toàn trái đất

(Còn nữa)

Theo: Nguyễn Hồng Lam - Báo An ninh thế giới

 


Chùm ảnh: Tuyên Quang ngày giáp Tết Tân Mão

tuyenm 24 February, 2011 11:26 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

 

Không khí những ngày giáp Tết Tân Mão ở thành phố trẻ Tuyên Quang có lẽ cũng vồn vã, náo nhiệt như ở nhiều nơi. Trên đường phố người người qua lại tấp nập, vỉa hè góc phố đâu cũng thấy tất bật người bán, kẻ mua... và ở đâu đó còn có cả những kẻ chẳng bán chẳng mua, vì đơn giản là đi để hít hà cái không khí tết đang đến rất gần.

Nhẽ ra phải đưa những tấm ảnh này lên trước tết song một phần vì bận công việc, một phần vì cái anh nhà mạng cho "rớt" liên tục nên giờ mới post được. Xin giới thiệu với các bạn.

  Phía sau cổng thành Nhà Mạc

  Người bán, kẻ mua tấp nập

  Cậu bé chăm chú nhìn ai thế nhỉ?

  Ôi vui quá!

  Theo mẹ bán hàng, bé thấy gì cũng lạ

  "Mở hàng cho chị đi em, chị bán rẻ cho..." Cái chị bán đậu phụ này cười khoái thật, không giống cái chị bán gà bên cạnh

  Ở góc chợ còn có cả người già cơ nhỡ

  Bố ơi chọn cành khác đẹp hơn, con ứ lấy cành này đâu!

  Hoa gì mà lạ thế, chưa nhìn thấy bao giờ

  Đây đúng là hoa cúc

  Còn đây là hoa ... hoa gì ấy nhở, quên béng rồi

  Cúc mâm xôi đẹp quá, em chọn giúp chị đi!

  Hoa chuối rừng xuống phố, hàng độc đấy...

Tết này quất cảnh đắt hàng, xe lớn xe nhỏ lũ lượt kéo đến chở về

  Chỉ có mỗi cụ già đi xe đạp còn nhìn ngắm mấy cành đào ven đường...

(Ảnh Ma Tuyên)


Thiếu nữ Lô Lô

tuyenm 15 December, 2010 14:40 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)



Thiếu nữ Lô Lô



Ảnh Ma Tuyên

Lứa đôi

tuyenm 15 December, 2010 09:57 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Ảnh Ma Tuyên


Ảnh chân dung

tuyenm 15 December, 2010 09:55 Ảnh Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

alt

Phụ nữ dân tộc Dao (Dao áo dài)

alt

Phụ nữ dân tộc Dao quần trắng


 (Ảnh chụp tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang)


Tràng Đà ngày tôi đến

tuyenm 30 October, 2010 09:55 Bút ký Đường dẫn cố định Trackbacks (0)

Tràng Đà ngày tôi đến

                                                              Bút ký: Nguyễn Quang

Chỉ bằng một cái tên, cái tên thôi mà gần như duyên phận, gần như ấn định cho mình, một ngày nào đó, dù đã gần như hết cơ hội, tôi vẫn được trở lại Tràng Đà, trở lại mảnh đất mà gần như cái dạ dày của một thị xã nửa Trung du, nửa Cao nguyên này. Con đò xưa không còn, cái tiếng gầm gừ của cơn lũ đầu mùa cũng không còn mà chỉ còn một dòng nước trong xanh ôm lấy hình hài của một đô thị tương lai.



Bến đò xưa
 (Xem tiếp)

1 2 3 4  Sau»
1 2 3 4  Sau»

Powered by Vnweblogs
© 2007 - Design by Omar Romero (all rights reserved)